phân tích khoảng cách mục tiêu

Term of the Day

gap analysis

A technique that businesses use to determine what steps need to be taken in order to move from its current state to its desired, future state. Also called need-gap analysis, needs analysis, and needs assessment. Gap analysis consists of (1) listing of characteristic factors (such as attributes, competencies, performance levels) of the present situation (“what is”), (2) listing factors needed to achieve future objectives (“what should be”), and then (3) highlighting the gaps that exist and need to be filled. Gap analysis forces a company to reflect on who it is and ask who they want to be in the future.

Một kỹ thuật được dùng trong quản lý kinh doanh để xác định các bước đi cần thiết để chuyển từ một vị trí hiện tại (current state) đến một vị trí mong muốn trong tương lai (a desired future state). Cũng có các cách nói tương đương như phân tích khoảng cách yêu cầu (need gap analysis), phân tích yêu cầu (need analysis), đánh giá yêu cầu (needs assessment).

Phân tích khoảng cách mục tiêu bao gồm các bước:

(1) liệt kê các yếu tố đặc trưng (đặc điểm phẩm chất, năng lực kỹ thuật, mức độ hiệu quả thực hiện) của tình trạng hiện tại (present situation), tức là cái “đang có” (what is),
(2) liệt kê các yêu cầu cho các mục tiêu tương lai (future objectives), tức là “cái cần có” (what should be), và cuối cùng là(3) chỉ rõ các khoảng trống, các khiếm khuyết (gaps) đang tồn tại và cần phải lấp đầy.

Phân tích khoảng cách mục tiêu đặt công ty hay vào tình huống phải suy nghĩ phân tích hiện trạng của doanh nghiệp và xác định rõ những gì mà họ muốn doanh nghiệp phải đạt tới trong một tương lai xác định.


thư của rsf, tháng 12

 

     
 

Chers amis,
Je vous écris dans l’urgence. L’année écoulée s’annonce hélas tragique, à plusieurs titres. D’un côté, le bilan annuel établi par nos chercheurs est catastrophique : il fait état d’une hausse de 33% du nombre de journalistes tués en 2012 par rapport à 2011.

Jamais ce bilan n’a été aussi macabre depuis 1995. Nos équipes vont donc devoir redoubler d’efforts: renforcer nos programmes de défense et de protection des journalistes persécutés et emprisonnés, intensifier notre présence sur le terrain et nos actions auprès des autorités.

Mais face à ces besoins en hausse, les dons sont en baisse !

Notre collecte de fin d’année est durement frappée par la crise, et ces chiffres là sont, eux aussi, très préoccupants. RSF est plus que jamais face à une impasse budgétaire: rassembler des fonds est de plus en plus difficile, et pour cette raison, chaque don compte : nous avons besoin de vous à nos côtés !

N’attendez pas pour agir, si vous avez la possibilité de nous aider, je vous invite à le faire sur notre formulaire de dons en ligne 100% sécurisé. En cas de difficulté, n’hésitez pas à nous appeler au 01 44 83 84 64.

Quel que soit le montant de votre don, il fera la différence et vous donnera droit à une déduction fiscale de 66% de son montant sur vos impôts.

Cette année plus que jamais, votre don est vital pour tous ceux qui, à travers le monde, se battent pour la liberté de l’information.

Je vous souhaite de très joyeuses fêtes de fin d’année et je vous remercie d’avance de votre aide, votre compréhension et votre générosité.

Très cordialement,
Perrine Daubas
Responsable de la collecte
Reporters sans Frontières https://donate.rsf.org

47 rue Vivienne
75002 Paris – France
Tel. +33 1 44 83 84 84
Fax. +33 1 45 23 11 51

PS: N’oubliez pas, c’est grâce à vos dons que nous restons indépendants. Nous comptons sur vous !

Vous recevez ce message car vous êtes abonné à notre lettre d’information sur l’adresse suivante : hoa.minhthien@gmail.com
Ne plus recevoir de messages de notre part, rendez-vous sur cette page.

Các bạn thân mến,
Tôi phải khẩn hoản viết cho các bạn đây. Xin được thông báo rằng tình hình năm qua, về nhiểu phương diện, hởi ôi, rất bi đát. Phần thì, ngân quỹ hàng năm của cộng tác viên điều tra của chúng tôi rất tang thương:

ma.chi.a.ve.li

Term of the Day

Machiavellian

Conduct or philosophy based on (or one who adopts) the cynical beliefs of Niccolo Machiavelli (1469-1527) whose name (in popular perception) is synonymous with deception and duplicity in management and statecraft. Born in Florence (Italy), Machiavelli was its second chancellor and (in 1531) wrote the book ‘The Prince’ that discusses ways in which the rulers of a nation state can gain and control power. Although The Prince contains some keen and practical insights into human behavior, it also displays a pessimistic view of human nature and condones opportunistic and unethical ways of manipulating people. One of its suggestions reads, “Whoever desires to found a state and give it laws, must start with assuming that all men are bad and ever ready to display their vicious nature.”

Ma chi-a ve li: phẩm hạnh hay triết lý dựa trên các nguyên tắc ích kỷ cẩu trệ (cynical beliefs) của nhà chính trị học Niccolo Machiavelli (1469-1527), mà tên tuổi của ông, theo đánh giá chung của đa số, đồng nghĩa với sự giả trá (deception) và thói hai mặt (duplicity) trong thuật dùng người và trị nước (management and statecraft). Sinh trưởng tại vùng Florence (Italia), Machiavelli là quan Thái sư của nhà vua và biên soạn cuốn sách “Quân Vương” (Il Principe, 1531) trong đó luận bàn những phương cách các nhà cai trị thâu tóm và khống chế quyền lực . Mặc dù tác phẩm “Quân Vương” chứa đựng  nhiều cách nhìn sâu sắc thực tiễn về hành vi ứng xử (behaviours) của con người, tác phẩm cũng bộc lộ quan điểm rất tiêu cực (pessimistic, bi quan) về bản chất con người và dung dưỡng (condone) những cung cách vô luân, mang tính cơ hội  trong đối nhân xử thế (manipulating people). Người ta tìm thấy trong đó những lời khuyên đại loại: “Bậc quân vương muốn nắm lấy quốc gia, định đặt pháp chế phải đi từ chỗ xác định bản chất con người ai cũng xấu xa và không từ một cơ hội nào để thể hiện cái bản năng làm hại kẻ khác”

 

 

 

 

 

The Influence Of Machiavelli On Shakespeare

Niccolo Machiavelli (1469-1527) was an Italian philosopher and poet who both repulsed and fascinated the psyche of Renaissance Europe. In his most famous work, Il Principe (The Prince)(1532), he set out his ideas on how the prince of a country could set out to attain power and how he might keep that power once he had secured it. Although Shakespeare’s most infamous Machiavellian character is Richard III, the model of the political schemer out to secure his own position can be detected most overtly in the characters of Iago (Othello), Edmund (King Lear), and Claudius (Hamlet), and to a lesser extent in the characters of Hamlet himself and Augustus Caesar in Antony and Cleopatra.

In the aftermath of the publication of Il Principe, both the Catholic and the newly formed Protestant Church condemned the book and it was in fact banned in Elizabethan England. [1] The papacy placed it on its Index Librorum Prohibitorum (List of Banned Books) in 1559, but it was nevertheless read widely by the Elizabethan political class during this period. Although an English translation was not made until 1640, there were Latin, Italian, French and Spanish versions of the book in print.

As Machiavelli has proved to be both repellent and enticing, the message of his book has often been misinterpreted. The most common misreading is to suggest that Machiavelli advocates the idea that ‘The end justifies the means.’ However, as John Roe has noted, ‘Machiavelli at no point advocates the practice of evil as acceptable in itself – despite what his many detractors then and now have said; he concedes, rather, that evil sometimes has to be used.’ [2] It is in this respect that characters such as Hamlet can be viewed as Machiavellian. Although he is not overtly evil, Hamlet is faced with the task of killing a legitimately elected monarch in order to avenge his father, with no concrete evidence, and only the word of the Ghost for proof. Furthermore, it is an example of how a skilled politician can attain power in the absence of a legal succession. In fact Hamlet would only be following in the footsteps of Claudius who is himself a Machiavellian schemer; and, for at least a portion of the play, a particularly adept one, on the grounds that he achieved a relatively quiet transition into his position of power having committed only one murder. Initially, out of all the characters in the play, only Hamlet complains of his uncle’s succession.

The characters of Edmund and Iago are perhaps more readily identifiable to the reader as Machiavellian because of the way in which they manipulate truth and virtue for their own gain. However, while the temptation is to label them as evil these figures are successful as they engage with the other characters in the way that men act, and not in they way in which they should act. Machiavelli warns that:

A man who wants to act virtuously in every way necessarily comes to grief among so many who are not virtuous. Therefore if a prince wants to maintain his rule he must be prepared not to be virtuous, and to make use of this or not according to need. [3]

Both Iago and Edmund are able to succeed to a large extent because they embrace these principles, which they combine with high intelligence and the ability to adapt to unexpected developments, which they can further manipulate to their benefit. Augustus Caesar is even more adept at political manoeuvring, as he ultimately secures an Empire thorough his plotting. Antony’s virtus or virtue should, in an ideal world, overcome the machinations of Caesar, but in the real world that proves not to be the case. Indeed he is warned by a soothsayer early in the play not to engage with him. ‘If thou dost play with him at any game, / Thou art sure to lose’ (2.3.24-5).

Ultimately Machiavelli was a figure who greatly influenced the minds of Renaissance thinkers. Although many of the ideas which he put forward were not original in themselves, no one had ever written such a pamphlet on how to succeed in the art of kingship. One should be careful though in adhering to the stereotype of Machiavelli as morally bankrupt however, as one can clearly see Machiavellian characteristics in both his villains and his heroes.

Ralph McLean

1. Hugh Grady, Shakespeare, Machiavelli, and Montaigne: Power and Subjectivity from Richard II to Hamlet, (Oxford, 2002), p. 30 Return to text

2. John Roe, Shakespeare and Machiavelli (Cambridge, 2002) p. 15 Return to text

3. Niccolo Machiavelli, The Prince (London, 2004), p. 65 Return to text


abusing laws to jail a blogger in vietnam

Lạm dụng luật để bỏ tù blogger

Người dịch: Đan Thanh |

Ngày 22-11-2012

Chú thích của người dịch: Đây là một trong tập hợp các bài viết của Liên minh Báo chí Đông Nam Á (Southeast Asian Press Alliance, SEAPA) nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Chấm dứt tình trạng tội ác không bị trừng phạt (Global Day to End Impunity), 23-11, năm nay.

SEAPA kỷ niệm ngày này bằng cách tập hợp bài viết/ báo cáo của công dân các nước Đông Nam Á về một trường hợp điển hình xâm phạm tự do ngôn luận ở mỗi nước, như là kết quả của tình trạng tội ác và sai phạm của chính quyền không bị trừng phạt. Trường hợp ở Việt Nam được chọn để báo cáo là vụ án Điếu Cày.

 

 

 

IMPUNITY CASE PROFILE

The morning of 24 September must have been an unforgettable for Binh Nhi, a 29-year-old who had just secretly traveled thousands of kilometres by train from Hanoi to Ho Chi Minh City. Binh Nhi was caught by the police and was heavily beaten in custody. The wrong he committed was that he wanted to go to the People’s Court of Ho Chi Minh City, where the trial of a very famous blogger was taking place that morning.

Hundreds of policemen, both uniformed and plain clothed, were ubiquitous in the area to stop people from approaching the court, even though it was officially a ‘public’ trial.

Dieu Cay is the pen name of the blogger on trial. While he was in court that morning, his ex-wife and son were kept outside the court and prevented from attending the hearing, despite their desperate and angry objections. Police even ripped off the son’s “Free Dieu Cay” t-shirt. A young policeman taunted them shouting, “[You want] Freedom? Your freedom is my penis!”

After a trial that lasted for only three hours, Dieu Cay was sentenced 12 years to prison, while Ta Phong Tan, a woman blogger, received 10 years, and Phan Thanh Hai, aka AnhbaSG, four years. Analysts said AnhbaSG was given the lighter sentence for having admitted before the court that he was wrong, he felt remorse and would cut off all relationships with “reactionary elements.” This verdict for Anhba SG was something his family and friends all knew ahead of the trial.

All of the three bloggers were convicted under Article 88 of the Penal Code of Vietnam, penalizing the vague crime of “conducting anti-state propaganda”.

Blogger’s charisma

“Dieu Cay”, which means “peasant pipe”, is a very popular Vietnamese nickname that any Vietnamese blogger can use. And it’s the nickname of chosen by Nguyen Van Hai, an easy-going, amiable, warm-hearted and charismatic person, according to his friends.

Born on 23 September 1952 in the northern city of Hai Phong, Dieu Cay spent his youth in the Vietnam People’s Army in the southwestern border battlefield in the late 1970s. After the war, Dieu Cay chose to start his own business—running a coffeehouse, selling cameras and other photo equipment, and renting out apartments—instead of joining the bureaucracy, which was the common path of many.

When Yahoo! 360° came to Vietnam in 2005 after its official launch in the US, it was the first time for the country’s 22 million internet subscribers, mostly youths, to experience a new form of reading, writing, and expressing their ideas and opinions. While politics remained a sensitive area to most Vietnamese bloggers, the country began to witness since 2007 a growing concern about political issues, especially with the escalation of tensions on conflicting territorial claims between Vietnam and China.

Dieu Cay, in his 50s, proved to be internet-savvy, adapting very quickly to the new media. In mid-2007, he developed his own Yahoo! 360° blog, to which he posted writings and photos of the life of people in contemporary Vietnam. For example, he told the story of how he got into trouble when the local People’s Committee alleged that his restaurant was using the foreign name, “Mitau”, which simply meant “you and me” in a central Vietnam dialect. His writings, with a sense of humour and bitter satire, reflected different aspects of a crippling rule of law, winning him a high reputation as the first-ever famous political blogger in Vietnam.

In 2007, Dieu Cay and a few friends established the Free Journalists Club (FJC) without official permission. (While the Vietnam Constitution recognises freedom of association, it is not realized because of many obstacles for groups to organize themselves.) He also developed its blog, which, similar to his personal one, became a potent weapon in the struggle for justice and freedom of Vietnamese citizens. With a laptop and a camera, he travelled to many places in Vietnam to write stories on disadvantaged communities, including dispossessed farmers and sweatshop workers. Dieu Cay, for instance, exposed the beginnings of corruption in the construction of Can Tho bridge, which collapsed in September 2007 and is of the most serious disasters in Vietnam’s construction history.

The web of persecution

One example of government persecution against Dieu Cay occurred around November 2006. He was involved in a dispute with a neighbour, and an official of the local cell of the Communist Party, who appropriated part of one of Dieu Cay’s apartments. Dieu Cay posted photos of his apartment to his blog and distributed copies of the case among neighbours and friends. This attracted attention of the local people who were all displeased with the communist cadre. He also reported the case to local police, who, instead of returning the property to him, fined Dieu Cay instead for “inciting social disorder”. He objected and took a lawsuit to a local administrative court, which he lost in June 2007. In the process however, he blogged photos, voice recordings, and court proceedings, describing a spurious, laughter-provoking “rule of law” and, earning him even bigger attention from the public.

On December 2007, bloggers protested for the first time in Hanoi and Ho Chi Minh City, opposing China’s plan to set up a “Sansha City” to administer the disputed Spratly and Paracel islands in South China Sea. Dieu Cay, who was already prominent by then, managed to attract the participation of dozens of students.He was brutally detained by the police later on the way home.

Although he was released at the end of the day, Dieu Cay would from that time be placed under tight police surveillance. He was often harassed, his business sabotaged by strangers in different ways. More seriously, Dieu Cay was regularly summoned to the police station for interrogation. His friends say many interrogations lasted from 8am to 10pm, with a lot of queries about his activities and FJC’s. Because of this, Dieu Cay was almost confined to his home. When the pressure got worse, Dieu Cay decided to leave.

Subsequently there was a campaign of the police chasing after Dieu Cay. On April 19, 2008, he was “urgently arrested”, as police put it, in an Internet café in the southern city of Da Lat. No one witnessed the arrest, so there is no information about the charges contained in the warrant. International group Reporters Without Borders said it was no coincidence that Dieu Cay’s arrest came just a few days before the Ho Chi Minh City leg of the Olympic torch relay for which the government insisted on ‘absolute security’ and sanctions against any ‘troublemakers.’

Dieu Cay was handcuffed and secretly taken back to Ho Chi Minh City, placed in custody without access to any lawyer or legal support. The lawyer that Dieu Cay’s family hired later, Le Cong Dinh, complained that he was not permitted to meet Dieu Cay during police investigation and not even notified of the trial date.

The lawyer said the house search was only conducted a few days after his arrest. All of Dieu Cay’s friends and family thought the search was just aimed at finding evidence of his “anti-state activities”. Not finding anything, authorities then accused him of tax fraud. Even then, they failed to follow due process.

Since the police only began to seize papers as few days after the arrest, it was improbable that charges by the People’s Procuracy for tax fraud to be “based on some documents”, as it had said before the house search. Prior to the arrest, Dieu Cay was not served any notice from the local tax department related to his alleged tax evasion. All of the questions he was asked during the hours of investigations focused on his blogging activities, especially on the FJC.

Le Cong Dinh also found out that Dieu Cay, in fact, did not commit tax evasion. Rather, it was the police who requested the local tax department not to receive any overdue tax from both the Dieu Cay and his tenant without police permission. The request was made as early 25 February 2008. In other words, the tax fraud case was trap set up for Dieu Cay months before his arrest.

Dinh himself would be arrested just one year after and charged with attempting to overthrow the state.

Another lawyer, Le Tran Luat, who offered to free legal assistance to Dieu Cay, experienced police harassment and was also summoned for interrogation. The police questioned Le Tran Luat on his relationship with Dieu Cay, the motive behind the offer to defend free-of-charge, and his knowledge about the “outlawed FCJ.”

On 10 September 2008, Dieu Cay was sentenced 30 months in prison by the Ho Chi Minh City People’s Court. Ironically, on 18 October 2010, just one day before Dieu Cay completed his prison term, blogger AnhbaSG, also an FJC member, was arrested.

Dieu Cay would remain in detention under the new charge of “spreading propaganda against the state.” His family has also been subject to state harassment.

A warning to bloggers

In the months before the September 2012 trial of Dieu Cay, an online petition drew thousands of people to sign an open letter to President Truong Tan Sang, demanding for Dieu Cay’s freedom. Many bloggers produced black T-shirts with the slogan “Free Dieu Cay, freedom for the patriot”. The atmosphere was so tense that the police-dominated People’s Procuracy had tried to keep the trial date secret.

200The 24 September trial won unprecedented attention in Vietnam’s blogosphere and social networks (mostly Facebook). Dozens of bloggers from other places traveled to Ho Chi Minh City and went to the People’s Court, trying to attend the supposedly public trial despite the police blockade. The police jammed cell phone signals; many people were intimidated, harassed, and beaten, their mobile phones and cameras seized. The state-owned media launched a campaign attacking Dieu Cay ad hominem, as well as other “anti-state” bloggers in general.

Online commentators said that by giving Dieu Cay such a harsh sentence, the authorities wanted to send a message that they will be very tough on those critical of the state.

The heavy punishment, however, did not create the fear that the authorities expected among the citizens. Instead, anger spread virally over the Vietnamese-language internet. Even some members of blogging communities usually supportive of the state had to admit that the trial was unfair to bloggers who just voiced their opinion in a peaceful way, using only a web-connected laptop.

Many people contrasted Dieu Cay’s penalties with a case of police abuse of power, in which a police causing the death of one citizen not wearing a motorbike helmet was sentenced to only four years in prison. Many lamented that in Vietnam, “justice is just a travesty,” “blogging is now a dangerous job,” “if you hate someone, you’d better kill him rather than write bad things about him, because raising opinions here is more severely punished than murder.”

(Photos: DanlamBao; Youtube screen grab from Trandaiquangvideo)

TRƯỜNG HỢP TỘI ÁC CỦA CHÍNH QUYỀN KHÔNG BỊ TRỪNG PHẠT

Buổi sáng ngày 24-9 hẳn phải là không thể nào quên đối với Binh Nhì, một người 29 tuổi, người đã lẳng lặng vượt hàng nghìn kilomet từ Hà Nội vào TP.HCM bằng tàu hỏa. Binh Nhì bị công an bắt và bị đánh đập tàn tệ tại nơi giam giữ. Cái tội của anh là muốn  đến Tòa án Nhân dân TP.HCM, nơi phiên tòa xét xử một blogger rất nổi tiếng sẽ diễn ra buổi sáng hôm đó.

Hàng trăm công an, vừa cảnh phục vừa thường phục, nhan nhản khắp nơi trong khu vực để ngăn mọi người đến gần tòa án, cho dù trên danh nghĩa đây là phiên “công khai”.

Điếu Cày là bút danh của blogger bị xử. Trong khi ông đứng trước tòa buổi sáng hôm ấy, người vợ trước và con trai của ông bị giữ bên ngoài và không cho tham dự phiên xử, bất chấp sự phản đối đẩy phẩn nộ nhưng vô vọng. Công an thậm chí còn lột phăng chiếc áo phông “Trả tự do cho Điếu Cày” của cậu con trai. Một viên công an trẻ tuổi mắng nhiết họ: “Tự do à? Tự do cái con c.”

Sau cái phiên xử chỉ  có ba tiếng, Điếu Cày bị kết án 12 năm tù, còn Tạ Phong Tần, một nữ blogger, lĩnh án 10 năm, và Phan Thanh Hải, tức AnhbaSG, nhận 4 năm. Các nhà phân tích cho rằng AnhbaSG bị án nhẹ hơn là do đã thừa nhận trước tòa là anh sai, anh ăn năn hối cải và sẽ chấm dứt mọi quan hệ với “các phần tử phản động”. Bản án cho AnhbaSG là cái mà tất cả gia đình và bạn bè anh đều đã biết từ trước phiên xử.

Cả ba blogger đều bị buộc tội theo Điều 88 của Bộ luật Hình sự Việt Nam, trừng phạt một tội mơ hồ là “tuyên truyền chống nhà nước”.

Sự hấp dẫn của một blogger

“Điếu Cày”, có nghĩa là “ống điếu của nông dân”, là một nickname rất bình thường ở Việt Nam mà bất cứ một blogger Việt Nam nào cũng có thể sử dụng. Và đó là cái nick được chọn bởi ông Nguyễn Văn Hải, một người cởi mở, đáng mến, nhiệt tình và thu hút, theo lời bạn bè ông đánh giá.

Sinh ngày 23-9-1952 tại thành phố Hải Phòng ở miền Bắc, Điếu Cày sống tuổi thanh xuân trong hàng ngũ của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở mặt trận biên giới Tây Nam vào cuối những năm 1970. Sau chiến tranh, Điếu Cày bắt đầu làm kinh doanh riêng – mở quán café, bán máy ảnh và các thiết bị ảnh, cho thuê căn hộ – thay vì gia nhập bộ máy quan liêu, vốn là con đường chung của nhiều người.

Khi Yahoo! 360° xuất hiện ở Việt Nam vào năm 2005 sau khi được công bố ở Mỹ, lần đầu tiên 22 triệu người dùng Internet của Việt Nam, phần lớn là thanh niên, được trải nghiệm một hình thức mới để đọc, viết, và thể hiện quan điểm, ý kiến. Mặc dù chính trị vẫn là một lĩnh vực nhạy cảm với phần lớn blogger Việt Nam, nhưng kể từ năm 2007, đất nước bắt đầu chứng kiến mối quan tâm ngày càng lớn đến các vấn đề chính trị, đặc biệt với sự leo thang căng thẳng trong các yêu sách chủ quyền mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Điếu Cày, khi ấy ngoài 50 tuổi, tỏ ra là một người thành thạo Internet, thích ứng rất nhanh với phương tiện truyền thông mới này. Giữa năm 2007, ông mở trang Yahoo! 360° blog riêng, post lên đó các bài viết và bức ảnh về cuộc sống của người dân ở nước Việt Nam đương đại. Ví dụ, ông kể chuyện ông đã gặp rắc rối như thế nào khi Ủy ban Nhân dân địa phương buộc tội nhà hàng của ông dùng tên tiếng nước ngoài, “Mitau”, mà tên đó chỉ có nghĩa là “mi và tau” trong thổ ngữ của người miền Trung. Các bài viết của ông – với một chút hài hước và chế giễu, phản ánh những khía cạnh khác nhau của một nền pháp quyền què quặt – đã khiến ông được biết đến với tư cách blogger chính trị nổi tiếng đầu tiên ở Việt Nam.

Năm 2007, Điếu Cày và một vài người bạn thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do mà không được cấp phép. (Mặc dù Hiến pháp Việt Nam công nhận quyền tự do lập hội, nhưng quyền ấy không được thực thi bởi lẽ có rất nhiều trở ngại khiến cho các nhóm không thể tự tổ chức được). Ông cũng mở blog của câu lạc bộ, và cũng tương tự như blog cá nhân của ông, blog (của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do) trở thành một vũ khí hùng mạnh trong cuộc chiến đấu vì công lý và tự do của công dân Việt Nam. Với một laptop, một chiếc máy ảnh, ông đi đến nhiều nơi ở Việt Nam để viết nên những câu chuyện, về các cộng đồng thiệt thòi, bao gồm cả những nông dân mất đất và những công nhân bị bóc lột. Chẳng hạn, Điếu Cày đã vạch trần tham nhũng trong dự án xây cầu Cần Thơ – cây cầu bị sập vào tháng 9-2007 và là một trong những thảm họa nghiêm trọng nhất trong lịch sử ngành xây dựng Việt Nam.

Mạng lưới khủng bố

Một ví dụ về sự ngược đãi mà chính quyền nhằm vào Điếu Cày là chuyện xảy ra vào khoảng tháng 11-2006. Ông dính líu vào một vụ cãi cọ với hàng xóm, vốn là một cán bộ trong chi bộ đảng ở địa phương, người đã chiếm một căn hộ của ông. Điếu Cày post ảnh căn hộ bị chiếm lên blog cá nhân và phân phát tờ photo vụ án cho láng giềng, bè bạn. Điều này thu hút sự chú ý của dân chúng địa phương, cũng đều là những người không hài lòng với ông cán bộ cộng sản kia. Điếu Cày còn báo cáo vụ việc với công an địa phương – song thay vì trả lại tài sản cho ông, công an lại phạt Điếu Cày tội “kích động gây rối”. Ông phản đối và đệ đơn kiện lên một tòa hành chính cấp địa phương, và thua kiện vào tháng 6-2007. Tuy nhiên, trong quá trình theo kiện, ông đã đăng tải trên blog ảnh, các đoạn ghi âm, ghi chép về thủ tục tố tụng xét xử, mô tả một “nhà nước pháp quyền” giả dối, lố bịch, và khiến cho ông càng được công luận chú ý hơn.

Tháng 12-2007, các blogger biểu tình lần đầu tiên ở Hà Nội và TP.HCM, phản đối kế hoạch của Trung Quốc xây dựng “thành phố Tam Sa” nhằm quản lý quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên Biển Đông. Điếu Cày – khi đó đã nổi tiếng rồi – thu hút được sự tham gia của hàng chục sinh viên. Sau đấy ông đã bị công an bắt một cách tàn nhẫn trên đường về nhà.

Mặc dù vào cuối ngày, Điếu Cày cũng được thả, nhưng kể từ đó, ông bị công an theo dõi chặt chẽ. Ông thường xuyên bị quấy nhiễu, công việc kinh doanh bị những người lạ phá hoại theo nhiều cách khác nhau. Nghiêm trọng nhất, Điếu Cày thường xuyên bị triệu lên đồn công an để trả lời thẩm vấn. Bạn bè ông kể lại rằng nhiều cuộc thẩm vấn kéo dài từ 8h sáng đến 10h đêm, với rất nhiều câu hỏi về các hoạt động của ông và của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do. Vì chuyện đó, Điếu Cày gần như bị giam trong nhà. Khi áp lực trở nên tồi tệ hơn, ông quyết định bỏ đi.

Ngay sau đó đã có cả một chiến dịch của công an nhằm truy bắt Điếu Cày. Vào ngày 19-4-2008, ông bị “bắt khẩn cấp” theo cách nói của công an, tại một quán café Internet ở Đà Lạt, thành phố miền Nam Việt Nam. Không có ai chứng kiến vụ bắt bớ, do đó không có thông tin gì về lý do buộc tội nêu trong lệnh bắt. Tổ chức quốc tế Phóng viên Không Biên giới nói rằng không phải là tình cờ khi mà vụ bắt giữ Điếu Cày diễn ra chỉ vài ngày sau lễ rước đuốc Olympic Bắc Kinh qua TP.HCM, mà vì buổi lễ đó, chính quyền đã khẳng định sẽ đảm bảo “an ninh tuyệt đối” và trừng phạt bất cứ “kẻ gây rối” nào.

Điếu Cày bị còng tay và bị bí mật đưa về TP.HCM, cho vào trại giam mà không được tiếp xúc với luật sư hoặc có sự trợ giúp pháp lý nào. Vị luật sư mà gia đình ông thuê sau đó, Lê Công Định, phàn nàn rằng ông không được phép gặp Điếu Cày trong suốt quá trình công an thẩm vấn, và thậm chí còn chẳng được thông báo về ngày giờ xét xử.

Luật sư Định cho biết, vài ngày sau khi Điếu Cày bị bắt, cuộc khám nhà mới diễn ra. Tất cả bạn bè và gia đình Điếu Cày cho rằng hành động khám xét đó chỉ nhằm mục đích tìm kiếm bằng chứng về các “hoạt động chống phá nhà nước” của ông. Không tìm thấy gì, chính quyền bèn buộc ông vào tội trốn thuế. Ngay cả khi đó thì họ cũng không làm đúng thủ tục tố tụng.

Do công an chỉ bắt đầu thu thập giấy tờ vài ngày sau vụ bắt Điếu Cày, cho nên Viện Kiểm sát Nhân dân không thể buộc Điếu Cày vào tội trốn thuế “dựa trên một số tài liệu”, như họ đã nói trước khi khám nhà. Trước lúc bị bắt, Điếu Cày cũng không nhận được bất kỳ một thông báo nào từ cơ quan thuế địa phương, liên quan đến việc buộc tội trốn thuế. Tất cả các câu hỏi đặt ra cho ông trong hàng giờ thẩm vấn trước đó chỉ tập trung vào hoạt động viết blog, đặc biệt là vào Câu lạc bộ Nhà báo Tự do.

Lê Công Định cũng phát hiện ra rằng trên thực tế, Điếu Cày không hề phạm tội trốn thuế. Thay vì thế, chính công an đã yêu cầu cơ quan thuế địa phương không nhận khoản tiền thuế quá hạn nộp cả từ Điếu Cày lẫn bên thuê nhà của ông, nếu không được phép của công an. Yêu cầu đó của phía công an được đưa ra từ ngày 25-2-2008. Nói cách khác, “trốn thuế” là môt cái bẫy được giăng ra cho Điếu Cày từ mấy tháng trước khi ông bị bắt.

Bản thân Lê Công Định cũng bị bắt một năm sau đó và bị buộc tội âm mưu lật đổ chính quyền.

Một luật sư khác, ông Lê Trần Luật, từng đề nghị hỗ trợ pháp lý miễn phí cho Điếu Cày, thì bị công an quấy nhiễu và cũng bị triệu tập để thẩm vấn. Công an hỏi Lê Trần Luật về quan hệ của ông với Điếu Cày, động cơ đằng sau việc đề nghị cãi miễn phí cho Điếu Cày, và hỏi ông biết những gì về “Câu lạc bộ Nhà báo Tự do bất hợp pháp” kia.

Ngày 10-9-2008, Điếu Cày bị Tòa án Nhân dân TP.HCM kết án 30 tháng tù giam. Thật trớ trêu, vào ngày 18-10-2010, chỉ một ngày trước khi Điếu Cày kết thúc thời gian thụ án, blogger AnhbaSG, cũng là thành viên Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, bị bắt.

Điếu Cày tiếp tục bị giam theo tội danh mới, “tuyên truyền chống nhà nước”. Gia đình ông cũng bị chính quyền quấy nhiễu.

Một lời cảnh cáo gửi đến các blogger

Trong thời gian trước phiên xử Điếu Cày vào tháng 9-2012, một cuộc vận động kiến nghị trên mạng đã thu hút hàng nghìn người ký tên vào một bức thư ngỏ gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, kêu gọi trả tự do cho Điếu Cày. Nhiều blogger may áo phông có in khẩu hiệu “Tự do cho Điếu Cày, tự do cho người yêu nước”. Không khí căng thẳng đến nỗi cái Viện Kiểm sát Nhân dân do công an chi phối kia phải cố giữ bí mật ngày giờ xét xử.

Phiên tòa ngày 24-9 thu hút sự chú ý chưa từng có trong cộng đồng blog và mạng xã hội ở Việt Nam (chủ yếu là trên Facebook). Hàng chục blogger từ nhiều địa phương khác đến TP.HCM và đi tới Tòa án Nhân dân, cố gắng tham dự phiên tòa được coi là công khai, bất chấp sự phong tỏa của công an. Công an phá sóng điện thoại di động; nhiều người bị đe dọa, bị quấy phá, và bị đánh, điện thoại cùng máy ảnh bị giật. Báo chí quốc doanh mở một chiến dịch tấn công cá nhân Điếu Cày cùng với các blogger “chống nhà nước” nói chung.

H2Giới bình luận trên mạng nói rằng bằng việc gán cho Điếu Cày một mức án nặng như thế, chính quyền muốn gửi thông điệp rằng họ sẽ rất cứng rắn với những kẻ dám chỉ trích nhà nước.

Tuy nhiên, bản án nặng nề không tạo ra được sự sợ hãi mà chính quyền mong đợi từ phía các công dân. Thay vào đó, cơn phẫn nộ lan tràn trên khắp mạng Internet tiếng Việt. Ngay cả một số thành viên của cộng đồng blogger, vốn dĩ ủng hộ nhà nước, cũng phải thừa nhận rằng bản án là bất công đối với những blogger chỉ lên tiếng một cách ôn hòa, sử dụng một laptop có nối mạng.

Nhiều người so sánh vụ xử Điếu Cày với vụ việc một viên công an lạm quyền, đánh chết một công dân không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, viên công an này chỉ bị kết án 4 năm tù. Nhiều người nữa than rằng ở Việt Nam, “công lý chỉ là trò hề”, “viết blog bây giờ cũng là nghề nguy hiểm”, “nếu ghét thằng nào thì thà giết nó đi, còn hơn là viết blog nói xấu nó, vì phát biểu ý kiến ở đây còn bị trừng trị nặng hơn tội giết người”.

Nguồn ảnh: DanlamBao, ảnh chụp màn hình Youtube từ Trandaiquang video.

Nguồn: SEAPA


abusing laws to jail a blogger in vietnam

Lạm dụng luật để bỏ tù blogger

Người dịch: Đan Thanh |

Ngày 22-11-2012

Chú thích của người dịch: Đây là một trong tập hợp các bài viết của Liên minh Báo chí Đông Nam Á (Southeast Asian Press Alliance, SEAPA) nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Chấm dứt tình trạng tội ác không bị trừng phạt (Global Day to End Impunity), 23-11, năm nay.

SEAPA kỷ niệm ngày này bằng cách tập hợp bài viết/ báo cáo của công dân các nước Đông Nam Á về một trường hợp điển hình xâm phạm tự do ngôn luận ở mỗi nước, như là kết quả của tình trạng tội ác và sai phạm của chính quyền không bị trừng phạt. Trường hợp ở Việt Nam được chọn để báo cáo là vụ án Điếu Cày.

 

 

IMPUNITY CASE PROFILE

The morning of 24 September must have been an unforgettable for Binh Nhi, a 29-year-old who had just secretly traveled thousands of kilometres by train from Hanoi to Ho Chi Minh City. Binh Nhi was caught by the police and was heavily beaten in custody. The wrong he committed was that he wanted to go to the People’s Court of Ho Chi Minh City, where the trial of a very famous blogger was taking place that morning.

Hundreds of policemen, both uniformed and plain clothed, were ubiquitous in the area to stop people from approaching the court, even though it was officially a ‘public’ trial.

Dieu Cay is the pen name of the blogger on trial. While he was in court that morning, his ex-wife and son were kept outside the court and prevented from attending the hearing, despite their desperate and angry objections. Police even ripped off the son’s “Free Dieu Cay” t-shirt. A young policeman taunted them shouting, “[You want] Freedom? Your freedom is my penis!”

After a trial that lasted for only three hours, Dieu Cay was sentenced 12 years to prison, while Ta Phong Tan, a woman blogger, received 10 years, and Phan Thanh Hai, aka AnhbaSG, four years. Analysts said AnhbaSG was given the lighter sentence for having admitted before the court that he was wrong, he felt remorse and would cut off all relationships with “reactionary elements.” This verdict for Anhba SG was something his family and friends all knew ahead of the trial.

All of the three bloggers were convicted under Article 88 of the Penal Code of Vietnam, penalizing the vague crime of “conducting anti-state propaganda”.

Blogger’s charisma

“Dieu Cay”, which means “peasant pipe”, is a very popular Vietnamese nickname that any Vietnamese blogger can use. And it’s the nickname of chosen by Nguyen Van Hai, an easy-going, amiable, warm-hearted and charismatic person, according to his friends.

Born on 23 September 1952 in the northern city of Hai Phong, Dieu Cay spent his youth in the Vietnam People’s Army in the southwestern border battlefield in the late 1970s. After the war, Dieu Cay chose to start his own business—running a coffeehouse, selling cameras and other photo equipment, and renting out apartments—instead of joining the bureaucracy, which was the common path of many.

When Yahoo! 360° came to Vietnam in 2005 after its official launch in the US, it was the first time for the country’s 22 million internet subscribers, mostly youths, to experience a new form of reading, writing, and expressing their ideas and opinions. While politics remained a sensitive area to most Vietnamese bloggers, the country began to witness since 2007 a growing concern about political issues, especially with the escalation of tensions on conflicting territorial claims between Vietnam and China.

Dieu Cay, in his 50s, proved to be internet-savvy, adapting very quickly to the new media. In mid-2007, he developed his own Yahoo! 360° blog, to which he posted writings and photos of the life of people in contemporary Vietnam. For example, he told the story of how he got into trouble when the local People’s Committee alleged that his restaurant was using the foreign name, “Mitau”, which simply meant “you and me” in a central Vietnam dialect. His writings, with a sense of humour and bitter satire, reflected different aspects of a crippling rule of law, winning him a high reputation as the first-ever famous political blogger in Vietnam.

In 2007, Dieu Cay and a few friends established the Free Journalists Club (FJC) without official permission. (While the Vietnam Constitution recognises freedom of association, it is not realized because of many obstacles for groups to organize themselves.) He also developed its blog, which, similar to his personal one, became a potent weapon in the struggle for justice and freedom of Vietnamese citizens. With a laptop and a camera, he travelled to many places in Vietnam to write stories on disadvantaged communities, including dispossessed farmers and sweatshop workers. Dieu Cay, for instance, exposed the beginnings of corruption in the construction of Can Tho bridge, which collapsed in September 2007 and is of the most serious disasters in Vietnam’s construction history.

The web of persecution

One example of government persecution against Dieu Cay occurred around November 2006. He was involved in a dispute with a neighbour, and an official of the local cell of the Communist Party, who appropriated part of one of Dieu Cay’s apartments. Dieu Cay posted photos of his apartment to his blog and distributed copies of the case among neighbours and friends. This attracted attention of the local people who were all displeased with the communist cadre. He also reported the case to local police, who, instead of returning the property to him, fined Dieu Cay instead for “inciting social disorder”. He objected and took a lawsuit to a local administrative court, which he lost in June 2007. In the process however, he blogged photos, voice recordings, and court proceedings, describing a spurious, laughter-provoking “rule of law” and, earning him even bigger attention from the public.

On December 2007, bloggers protested for the first time in Hanoi and Ho Chi Minh City, opposing China’s plan to set up a “Sansha City” to administer the disputed Spratly and Paracel islands in South China Sea. Dieu Cay, who was already prominent by then, managed to attract the participation of dozens of students.He was brutally detained by the police later on the way home.

Although he was released at the end of the day, Dieu Cay would from that time be placed under tight police surveillance. He was often harassed, his business sabotaged by strangers in different ways. More seriously, Dieu Cay was regularly summoned to the police station for interrogation. His friends say many interrogations lasted from 8am to 10pm, with a lot of queries about his activities and FJC’s. Because of this, Dieu Cay was almost confined to his home. When the pressure got worse, Dieu Cay decided to leave.

Subsequently there was a campaign of the police chasing after Dieu Cay. On April 19, 2008, he was “urgently arrested”, as police put it, in an Internet café in the southern city of Da Lat. No one witnessed the arrest, so there is no information about the charges contained in the warrant. International group Reporters Without Borders said it was no coincidence that Dieu Cay’s arrest came just a few days before the Ho Chi Minh City leg of the Olympic torch relay for which the government insisted on ‘absolute security’ and sanctions against any ‘troublemakers.’

Dieu Cay was handcuffed and secretly taken back to Ho Chi Minh City, placed in custody without access to any lawyer or legal support. The lawyer that Dieu Cay’s family hired later, Le Cong Dinh, complained that he was not permitted to meet Dieu Cay during police investigation and not even notified of the trial date.

The lawyer said the house search was only conducted a few days after his arrest. All of Dieu Cay’s friends and family thought the search was just aimed at finding evidence of his “anti-state activities”. Not finding anything, authorities then accused him of tax fraud. Even then, they failed to follow due process.

Since the police only began to seize papers as few days after the arrest, it was improbable that charges by the People’s Procuracy for tax fraud to be “based on some documents”, as it had said before the house search. Prior to the arrest, Dieu Cay was not served any notice from the local tax department related to his alleged tax evasion. All of the questions he was asked during the hours of investigations focused on his blogging activities, especially on the FJC.

Le Cong Dinh also found out that Dieu Cay, in fact, did not commit tax evasion. Rather, it was the police who requested the local tax department not to receive any overdue tax from both the Dieu Cay and his tenant without police permission. The request was made as early 25 February 2008. In other words, the tax fraud case was trap set up for Dieu Cay months before his arrest.

Dinh himself would be arrested just one year after and charged with attempting to overthrow the state.

Another lawyer, Le Tran Luat, who offered to free legal assistance to Dieu Cay, experienced police harassment and was also summoned for interrogation. The police questioned Le Tran Luat on his relationship with Dieu Cay, the motive behind the offer to defend free-of-charge, and his knowledge about the “outlawed FCJ.”

On 10 September 2008, Dieu Cay was sentenced 30 months in prison by the Ho Chi Minh City People’s Court. Ironically, on 18 October 2010, just one day before Dieu Cay completed his prison term, blogger AnhbaSG, also an FJC member, was arrested.

Dieu Cay would remain in detention under the new charge of “spreading propaganda against the state.” His family has also been subject to state harassment.

A warning to bloggers

In the months before the September 2012 trial of Dieu Cay, an online petition drew thousands of people to sign an open letter to President Truong Tan Sang, demanding for Dieu Cay’s freedom. Many bloggers produced black T-shirts with the slogan “Free Dieu Cay, freedom for the patriot”. The atmosphere was so tense that the police-dominated People’s Procuracy had tried to keep the trial date secret.

200The 24 September trial won unprecedented attention in Vietnam’s blogosphere and social networks (mostly Facebook). Dozens of bloggers from other places traveled to Ho Chi Minh City and went to the People’s Court, trying to attend the supposedly public trial despite the police blockade. The police jammed cell phone signals; many people were intimidated, harassed, and beaten, their mobile phones and cameras seized. The state-owned media launched a campaign attacking Dieu Cay ad hominem, as well as other “anti-state” bloggers in general.

Online commentators said that by giving Dieu Cay such a harsh sentence, the authorities wanted to send a message that they will be very tough on those critical of the state.

The heavy punishment, however, did not create the fear that the authorities expected among the citizens. Instead, anger spread virally over the Vietnamese-language internet. Even some members of blogging communities usually supportive of the state had to admit that the trial was unfair to bloggers who just voiced their opinion in a peaceful way, using only a web-connected laptop.

Many people contrasted Dieu Cay’s penalties with a case of police abuse of power, in which a police causing the death of one citizen not wearing a motorbike helmet was sentenced to only four years in prison. Many lamented that in Vietnam, “justice is just a travesty,” “blogging is now a dangerous job,” “if you hate someone, you’d better kill him rather than write bad things about him, because raising opinions here is more severely punished than murder.”

(Photos: DanlamBao; Youtube screen grab from Trandaiquangvideo)

TRƯỜNG HỢP TỘI ÁC CỦA CHÍNH QUYỀN KHÔNG BỊ TRỪNG PHẠT

Buổi sáng ngày 24-9 hẳn phải là không thể nào quên đối với Binh Nhì, một người 29 tuổi, người đã lẳng lặng vượt hàng nghìn kilomet từ Hà Nội vào TP.HCM bằng tàu hỏa. Binh Nhì bị công an bắt và bị đánh đập tàn tệ tại nơi giam giữ. Cái tội của anh là muốn  đến Tòa án Nhân dân TP.HCM, nơi phiên tòa xét xử một blogger rất nổi tiếng sẽ diễn ra buổi sáng hôm đó.

Hàng trăm công an, vừa cảnh phục vừa thường phục, nhan nhản khắp nơi trong khu vực để ngăn mọi người đến gần tòa án, cho dù trên danh nghĩa đây là phiên “công khai”.

Điếu Cày là bút danh của blogger bị xử. Trong khi ông đứng trước tòa buổi sáng hôm ấy, vợ cũ và con trai của ông bị giữ bên ngoài và bị ngăn trở, không cho tham dự phiên điều trần, bất chấp sự phản đối tuyệt vọng và phẫn nộ của họ. Công an thậm chí còn lột bỏ chiếc áo phông “Trả tự do cho Điếu Cày” của cậu con trai. Một viên công an trẻ tuổi hét vào mặt họ, chế giễu: “(Mày thích) Tự do à? Tự do cái con c.” (dịch sát nghĩa từ tiếng Anh: “Tự do của mày là con c. của tao đây” – ND)

Sau phiên xử chỉ kéo dài có ba tiếng, Điếu Cày bị kết án 12 năm tù, trong khi Tạ Phong Tần, một blogger nữ, lĩnh án 10 năm, và Phan Thanh Hải, tức AnhbaSG, 4 năm. Các nhà phân tích cho rằng AnhbaSG bị án nhẹ hơn là do đã thừa nhận trước tòa là anh sai, anh ăn năn hối cải và sẽ chấm dứt mọi quan hệ với “các thành phần phản động”. Bản án cho AnhbaSG là cái mà tất cả gia đình và bạn bè anh đều đã biết từ trước phiên xét xử.

Cả ba blogger đều bị buộc tội theo Điều 88 của Bộ luật Hình sự Việt Nam, trừng phạt một tội mơ hồ là “tuyên truyền chống nhà nước”.

Sự hấp dẫn của một blogger

“Điếu Cày”, có nghĩa là “ống điếu của nông dân”, là một nickname rất bình thường ở Việt Nam mà bất cứ một blogger Việt Nam nào cũng có thể sử dụng. Và đó là cái nick được chọn bởi ông Nguyễn Văn Hải, một người cởi mở, đáng mến, nhiệt tình và thu hút, theo lời bạn bè ông đánh giá.

Sinh ngày 23-9-1952 tại thành phố Hải Phòng ở miền Bắc, Điếu Cày sống tuổi thanh xuân trong hàng ngũ của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở mặt trận biên giới Tây Nam vào cuối những năm 1970. Sau chiến tranh, Điếu Cày bắt đầu làm kinh doanh riêng – mở quán café, bán máy ảnh và các thiết bị ảnh, cho thuê căn hộ – thay vì gia nhập bộ máy quan liêu, vốn là con đường chung của nhiều người.

Khi Yahoo! 360° xuất hiện ở Việt Nam vào năm 2005 sau khi được công bố ở Mỹ, lần đầu tiên 22 triệu người dùng Internet của Việt Nam, phần lớn là thanh niên, được trải nghiệm một hình thức mới để đọc, viết, và thể hiện quan điểm, ý kiến. Mặc dù chính trị vẫn là một lĩnh vực nhạy cảm với phần lớn blogger Việt Nam, nhưng kể từ năm 2007, đất nước bắt đầu chứng kiến mối quan tâm ngày càng lớn đến các vấn đề chính trị, đặc biệt với sự leo thang căng thẳng trong các yêu sách chủ quyền mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Điếu Cày, khi ấy ngoài 50 tuổi, tỏ ra là một người thành thạo Internet, thích ứng rất nhanh với phương tiện truyền thông mới này. Giữa năm 2007, ông mở trang Yahoo! 360° blog riêng, post lên đó các bài viết và bức ảnh về cuộc sống của người dân ở nước Việt Nam đương đại. Ví dụ, ông kể chuyện ông đã gặp rắc rối như thế nào khi Ủy ban Nhân dân địa phương buộc tội nhà hàng của ông dùng tên tiếng nước ngoài, “Mitau”, mà tên đó chỉ có nghĩa là “mi và tau” trong thổ ngữ của người miền Trung. Các bài viết của ông – với một chút hài hước và chế giễu, phản ánh những khía cạnh khác nhau của một nền pháp quyền què quặt – đã khiến ông được biết đến với tư cách blogger chính trị nổi tiếng đầu tiên ở Việt Nam.

Năm 2007, Điếu Cày và một vài người bạn thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do mà không được cấp phép. (Mặc dù Hiến pháp Việt Nam công nhận quyền tự do lập hội, nhưng quyền ấy không được thực thi bởi lẽ có rất nhiều trở ngại khiến cho các nhóm không thể tự tổ chức được). Ông cũng mở blog của câu lạc bộ, và cũng tương tự như blog cá nhân của ông, blog (của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do) trở thành một vũ khí hùng mạnh trong cuộc chiến đấu vì công lý và tự do của công dân Việt Nam. Với một laptop, một chiếc máy ảnh, ông đi đến nhiều nơi ở Việt Nam để viết nên những câu chuyện, về các cộng đồng thiệt thòi, bao gồm cả những nông dân mất đất và những công nhân bị bóc lột. Chẳng hạn, Điếu Cày đã vạch trần tham nhũng trong dự án xây cầu Cần Thơ – cây cầu bị sập vào tháng 9-2007 và là một trong những thảm họa nghiêm trọng nhất trong lịch sử ngành xây dựng Việt Nam.

Mạng lưới khủng bố

Một ví dụ về sự ngược đãi mà chính quyền nhằm vào Điếu Cày là chuyện xảy ra vào khoảng tháng 11-2006. Ông dính líu vào một vụ cãi cọ với hàng xóm, vốn là một cán bộ trong chi bộ đảng ở địa phương, người đã chiếm một căn hộ của ông. Điếu Cày post ảnh căn hộ bị chiếm lên blog cá nhân và phân phát tờ photo vụ án cho láng giềng, bè bạn. Điều này thu hút sự chú ý của dân chúng địa phương, cũng đều là những người không hài lòng với ông cán bộ cộng sản kia. Điếu Cày còn báo cáo vụ việc với công an địa phương – song thay vì trả lại tài sản cho ông, công an lại phạt Điếu Cày tội “kích động gây rối”. Ông phản đối và đệ đơn kiện lên một tòa hành chính cấp địa phương, và thua kiện vào tháng 6-2007. Tuy nhiên, trong quá trình theo kiện, ông đã đăng tải trên blog ảnh, các đoạn ghi âm, ghi chép về thủ tục tố tụng xét xử, mô tả một “nhà nước pháp quyền” giả dối, lố bịch, và khiến cho ông càng được công luận chú ý hơn.

Tháng 12-2007, các blogger biểu tình lần đầu tiên ở Hà Nội và TP.HCM, phản đối kế hoạch của Trung Quốc xây dựng “thành phố Tam Sa” nhằm quản lý quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên Biển Đông. Điếu Cày – khi đó đã nổi tiếng rồi – thu hút được sự tham gia của hàng chục sinh viên. Sau đấy ông đã bị công an bắt một cách tàn nhẫn trên đường về nhà.

Mặc dù vào cuối ngày, Điếu Cày cũng được thả, nhưng kể từ đó, ông bị công an theo dõi chặt chẽ. Ông thường xuyên bị quấy nhiễu, công việc kinh doanh bị những người lạ phá hoại theo nhiều cách khác nhau. Nghiêm trọng nhất, Điếu Cày thường xuyên bị triệu lên đồn công an để trả lời thẩm vấn. Bạn bè ông kể lại rằng nhiều cuộc thẩm vấn kéo dài từ 8h sáng đến 10h đêm, với rất nhiều câu hỏi về các hoạt động của ông và của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do. Vì chuyện đó, Điếu Cày gần như bị giam trong nhà. Khi áp lực trở nên tồi tệ hơn, ông quyết định bỏ đi.

Ngay sau đó đã có cả một chiến dịch của công an nhằm truy bắt Điếu Cày. Vào ngày 19-4-2008, ông bị “bắt khẩn cấp” theo cách nói của công an, tại một quán café Internet ở Đà Lạt, thành phố miền Nam Việt Nam. Không có ai chứng kiến vụ bắt bớ, do đó không có thông tin gì về lý do buộc tội nêu trong lệnh bắt. Tổ chức quốc tế Phóng viên Không Biên giới nói rằng không phải là tình cờ khi mà vụ bắt giữ Điếu Cày diễn ra chỉ vài ngày sau lễ rước đuốc Olympic Bắc Kinh qua TP.HCM, mà vì buổi lễ đó, chính quyền đã khẳng định sẽ đảm bảo “an ninh tuyệt đối” và trừng phạt bất cứ “kẻ gây rối” nào.

Điếu Cày bị còng tay và bị bí mật đưa về TP.HCM, cho vào trại giam mà không được tiếp xúc với luật sư hoặc có sự trợ giúp pháp lý nào. Vị luật sư mà gia đình ông thuê sau đó, Lê Công Định, phàn nàn rằng ông không được phép gặp Điếu Cày trong suốt quá trình công an thẩm vấn, và thậm chí còn chẳng được thông báo về ngày giờ xét xử.

Luật sư Định cho biết, vài ngày sau khi Điếu Cày bị bắt, cuộc khám nhà mới diễn ra. Tất cả bạn bè và gia đình Điếu Cày cho rằng hành động khám xét đó chỉ nhằm mục đích tìm kiếm bằng chứng về các “hoạt động chống phá nhà nước” của ông. Không tìm thấy gì, chính quyền bèn buộc ông vào tội trốn thuế. Ngay cả khi đó thì họ cũng không làm đúng thủ tục tố tụng.

Do công an chỉ bắt đầu thu thập giấy tờ vài ngày sau vụ bắt Điếu Cày, cho nên Viện Kiểm sát Nhân dân không thể buộc Điếu Cày vào tội trốn thuế “dựa trên một số tài liệu”, như họ đã nói trước khi khám nhà. Trước lúc bị bắt, Điếu Cày cũng không nhận được bất kỳ một thông báo nào từ cơ quan thuế địa phương, liên quan đến việc buộc tội trốn thuế. Tất cả các câu hỏi đặt ra cho ông trong hàng giờ thẩm vấn trước đó chỉ tập trung vào hoạt động viết blog, đặc biệt là vào Câu lạc bộ Nhà báo Tự do.

Lê Công Định cũng phát hiện ra rằng trên thực tế, Điếu Cày không hề phạm tội trốn thuế. Thay vì thế, chính công an đã yêu cầu cơ quan thuế địa phương không nhận khoản tiền thuế quá hạn nộp cả từ Điếu Cày lẫn bên thuê nhà của ông, nếu không được phép của công an. Yêu cầu đó của phía công an được đưa ra từ ngày 25-2-2008. Nói cách khác, “trốn thuế” là môt cái bẫy được giăng ra cho Điếu Cày từ mấy tháng trước khi ông bị bắt.

Bản thân Lê Công Định cũng bị bắt một năm sau đó và bị buộc tội âm mưu lật đổ chính quyền.

Một luật sư khác, ông Lê Trần Luật, từng đề nghị hỗ trợ pháp lý miễn phí cho Điếu Cày, thì bị công an quấy nhiễu và cũng bị triệu tập để thẩm vấn. Công an hỏi Lê Trần Luật về quan hệ của ông với Điếu Cày, động cơ đằng sau việc đề nghị cãi miễn phí cho Điếu Cày, và hỏi ông biết những gì về “Câu lạc bộ Nhà báo Tự do bất hợp pháp” kia.

Ngày 10-9-2008, Điếu Cày bị Tòa án Nhân dân TP.HCM kết án 30 tháng tù giam. Thật trớ trêu, vào ngày 18-10-2010, chỉ một ngày trước khi Điếu Cày kết thúc thời gian thụ án, blogger AnhbaSG, cũng là thành viên Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, bị bắt.

Điếu Cày tiếp tục bị giam theo tội danh mới, “tuyên truyền chống nhà nước”. Gia đình ông cũng bị chính quyền quấy nhiễu.

Một lời cảnh cáo gửi đến các blogger

Trong thời gian trước phiên xử Điếu Cày vào tháng 9-2012, một cuộc vận động kiến nghị trên mạng đã thu hút hàng nghìn người ký tên vào một bức thư ngỏ gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, kêu gọi trả tự do cho Điếu Cày. Nhiều blogger may áo phông có in khẩu hiệu “Tự do cho Điếu Cày, tự do cho người yêu nước”. Không khí căng thẳng đến nỗi cái Viện Kiểm sát Nhân dân do công an chi phối kia phải cố giữ bí mật ngày giờ xét xử.

Phiên tòa ngày 24-9 thu hút sự chú ý chưa từng có trong cộng đồng blog và mạng xã hội ở Việt Nam (chủ yếu là trên Facebook). Hàng chục blogger từ nhiều địa phương khác đến TP.HCM và đi tới Tòa án Nhân dân, cố gắng tham dự phiên tòa được coi là công khai, bất chấp sự phong tỏa của công an. Công an phá sóng điện thoại di động; nhiều người bị đe dọa, bị quấy phá, và bị đánh, điện thoại cùng máy ảnh bị giật. Báo chí quốc doanh mở một chiến dịch tấn công cá nhân Điếu Cày cùng với các blogger “chống nhà nước” nói chung.

H2Giới bình luận trên mạng nói rằng bằng việc gán cho Điếu Cày một mức án nặng như thế, chính quyền muốn gửi thông điệp rằng họ sẽ rất cứng rắn với những kẻ dám chỉ trích nhà nước.

Tuy nhiên, bản án nặng nề không tạo ra được sự sợ hãi mà chính quyền mong đợi từ phía các công dân. Thay vào đó, cơn phẫn nộ lan tràn trên khắp mạng Internet tiếng Việt. Ngay cả một số thành viên của cộng đồng blogger, vốn dĩ ủng hộ nhà nước, cũng phải thừa nhận rằng bản án là bất công đối với những blogger chỉ lên tiếng một cách ôn hòa, sử dụng một laptop có nối mạng.

Nhiều người so sánh vụ xử Điếu Cày với vụ việc một viên công an lạm quyền, đánh chết một công dân không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, viên công an này chỉ bị kết án 4 năm tù. Nhiều người nữa than rằng ở Việt Nam, “công lý chỉ là trò hề”, “viết blog bây giờ cũng là nghề nguy hiểm”, “nếu ghét thằng nào thì thà giết nó đi, còn hơn là viết blog nói xấu nó, vì phát biểu ý kiến ở đây còn bị trừng trị nặng hơn tội giết người”.

Nguồn ảnh: DanlamBao, ảnh chụp màn hình Youtube từ Trandaiquang video.

Nguồn: SEAPA


outsourcing

Term of the Day

image

Thuê ngoài:

Việc hợp đồng (hoặc cho cho thầu lại hợp đồng) với một hay nhiều đối tác bên ngoài một số các công việc không trọng yếu (noncore activities) để giải tỏa sự tập trung (free up) dòng tiền, nhân lực, quỹ thời gian, và năng lực thiết bị (facilities) để tập chú vào các công việc chính mà công ty có lợi thế cạnh tranh (holding competitive advantage) . Các công ty bên ngoài có thế mạnh trong (having strengths in ) các lĩnh vực khác có thể ký hợp đồng ngoại (contract out) để xử lý dữ liệu, các dịch vụ pháp lý (legal), sản xuất, tiếp thị, kế toán tiền lương hoặc các lĩnh vực khác của hoạt động doanh nghiệp để tập trung (concentrate on, focus in) những gì mình có thể làm tốt hơn, và qua đó giảm giá thành đơn vị . Thuê ngoài (outsourcing) thường là một bộ phận khắng khít (an integral part)  của quá trình giảm biên chế (downsizing , hạn chế sự trương phình) hoặc cải tiến công nghệ (reengineering). Thuê ngoài cũng còn gọi là hợp đồng ngoại (contracting out)

outsourcing

The contracting or subcontracting of noncore activities to free up cash, personnel, time, and facilities for activities in which a company holds competitive advantage. Companies having strengths in other areas may contract out data processing, legal, manufacturing, marketing, payroll accounting, or other aspects of their businesses to concentrate on what they do best and thus reduce average unit cost. Outsourcing is often an integral part of downsizing or reengineering. Also called contracting out.


căn cứ tên lửa hạt nhân tại đông đức

 

Một căn cứ tên lửa hạt nhân Sôviết tại Đông Đức (trước đây) mà các máy bay do thám chưa từng phát hiện được.

Vào năm 1959, đây là một thông tin tuyệt mật và hoàn toàn không được tiết lộ cho mãi đến gần đây: một căn cứ tên lửa hạt nhân bên ngoài lãnh thổ Liên Xô. Nhưng ngày nay nó vẫn còn đó, hoang phế, nhường chỗ cho cây cỏ đang mọc lên giành lại vùng đất cũ phía bắc của thành phố Bá Linh

Tác giả bài viết: Stephen Evans, phóng viên Tin tức BBC, Berlin

Ngày nay nó vẫn là một địa điểm khó tìm nhất. Một vùng trảng dọc theo con đường cây cỏ mọc đầy, thoạt trông cũng như mọi dải đất trống trong miền rừng Branđenbuốc mênh mông. Nhưng trên nền đất đó, có một dải bêtông bằng một nửa sân quần vợt, ở ngay giữa nó là tấm đế bằng thép dày.

Đó là bệ phóng dùng cho một trận tấn công hạt nhân về phía Tây Âu. Các tên lửa hạt nhân Liên Xô có sức nổ gấp hai mươi lần trái bom ở Hiroshima đã được lắp đặt tại đây, sẵn sàng để bắn tới các mục tiêu như Luân Đôn, các cơ sở hạt nhân phía đông nước Anh. Ba năm trước vụ khủng hoảng tên lửa hạt nhân tại Cuba, Liên Xô đã đặt vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ nước ngoài, trong khu rừng này của Đông Đức trước đây.

Nơi nầy từng là trung tâm đồn trú của 15,000 quân, nhưng giờ đây thiên nhiên đã che phủ lên chỗ từng là tiền đồn của đế chế Sôviết. Năm 1994, khi Hồng quân ra đi, cây cỏ đã mọc lên để giành lại chỗ đất trống. Chỉ còn lại những đoạn đường rừng đầy cỏ hoang dẫn vào khu tổ hợp, gần ngôi làng Vogelsang.

image

Trong những năm 1950, người ta đã cố hết sức để che dấu bệ phóng này khỏi tấm nhìn của các máy bay do thám và những con mắt tò mò của người dân Đức  Có lẽ nhờ được bảo mật hết sức cẩn thận mà căn cứ hạt nhân đầu tiên của Liên Xô đã không gây ra tiếng xầm xì. Nhưng các cơ quan tình báo Tây Đức, Mỹ, Anh, Pháp đã có suy đoán về những gì đang xảy ra

Ngày nay, ngay trung tâm của thành phố ma này vẫn còn lại ngọn tháp nhỏ có khắc hình của Lê nin, ngay ở trên đỉnh chóp. Khu này cũng còn ngôi trường với tranh bích họa cho trẻ em, nay đã bong tróc: lũ thiên nga đang bay, những con thuyền bơi trên sông, với nền trời xanh hay ánh nắng vàng. Tường ngoài còn trang trí hình Lê Nin, những chiếc xe tăng Hồng quân đang tiến công..

Nhưng hoạt động thực sự của căn cứ chính là đầu bên kia của dải đất: những bunke được che lấp dưới đất, và nhiều hầm công sự bê tông chứa đầu đạn hạt nhân. Và rồi, phía dưới một đoạn đường ngắn, có một khoảng đất trống. Đó chính là dải đất yên bình cho loại vũ khí giết người hàng loạt được sẵn sàng phóng lên.

image

Từ bên dưới các tán lá vòm cây dày đặc nhìn lên, hầu như không thấy một chút bầu trời, điều đó có thể hiểu được vùng trảng này khó mà bị các máy bay do thám của những năm 1960 phát hiện được. Tại chỗ trống  nằm dưới những tán sồi, có một bệ bê tông kiên cố, mặt trên là tấm kim loại được bắt xuống bằng bulông, dùng làm bệ phóng có thể bắn đến những mục tiêu xa hơn 1.200 cây số. Và Luân đôn chỉ cách xa đó khoảng 1.000 cây.

Theo các báo cáo mật của tình báo Hoa Kỳ được công bố sau ngày kết thúc chiến tranh lạnh, căn cứ đã được xây dựng từ năm 1959. Với trường hợp Cuba, các ảnh chụp không thám rất rõ ràng, và Liên Xô bị đưa ra trước những bằng chứng không thể chối cải. Sau hai tuần căng thẳng, họ đã phải lui bước và chấp nhận tháo dỡ các đầu đạn nguyên tử.  Nhưng căn cứ tên lửa tại Đức thì không nhìn thấy rõ ràng.

image
Các bệ phóng di động sẽ được bắt xuống các tấm thép nối kết với bệ bê tông bên dưới.

Ngày 11 tháng Tám, 1960, CIA viết một báo cáo mật có tựa đề “Khả năng có Căn cứ Tên lửa Ngụy trang tại Đông Đức”. Đây một loạt các quan sát cho thấy những mảnh thông tin rải rác có thể ghép lại thành một bức tranh toàn thể rộng lớn và mạch lạc.

Người Mỹ bấy giờ biết đã có mặt các đầu đạn và hệ thống di chuyển vì nó được nhìn thấy khi diễu hành trước các nhà lãnh đạo Bộ chính trị Đông Đức và các ống kính truyền hình  trong ngày lễ 1 tháng Năm của những năm 1957 và 1960. Cơ quan tình báo Hoa Kỳ gọi nó là Shyster (Tên Vô đạo) hoặc SS3 (R5 trong tài liệu của người Nga).

Nhưng họ sẽ bố trí chúng ở đâu ? Liên bang Xô viết thì quá xa để bắn tới các mục tiêu tại các nước phương Tây

Các mảnh ghép của bức tranh được tập hợp lại. Một số các chi tiết được chuyển về từ các chuyên viên tình báo phương Tây làm việc tại Đông Đức, những người chỉ đơn giản làm công việc theo dõi những hình ảnh diễn ra trên đường bộ hay tàu hỏa qua lại giữa biên giới Ba Lan và Đông Đức

image

Báo cáo CIA viết “Chỉ ít lâu sau thời điểm nửa đêm, sáng ngày 2o tháng Tư, năm 1959 người ta thấy một đoàn xe quân sự của Liên Xô dẫn đầu là 2 xe tải kiểu GAZ-69A di chuyển rất chậm từ hướng phi trường Jueterbog-Damm và khu vực cầu chuyển hàng cho tàu hỏa phía tây bắc dọc theo bìa tây ngoại thành Jueterbog”

Chỉ vài tháng sau lại có tường trình: “Một đoàn 8 xe rơmóc, căn cứ trên ảnh chụp, có lẽ đúng chủng loại những chiếc  từng xuất hiện trong đợt diễu hành các tên lửa Shyster, được phát hiện thấy đi vào Đông Đức bằng đường tàu hỏa tại Frankfurt-Oder vào ngày 9 tháng Mười một, năm 1959”

Một số các chuyến hàng tàu hỏa quân sự đặc biệt, có nghi vấn là chuyên chở các đầu đạn Sôviết chưa xác định được chủng loại cùng với các thiết bị liên quan cũng đã được phát hiện tại một loạt địa điểm tại Đông Đức trong năm 1959

Từ các đầu mối đã có, CIA kết luận địa điểm trong khu rừng phía bắc Bá Linh đã được sử dụng cho các bệ phóng di động cho các đầu đạn hạt nhân.

“Việc sử dụng các tên lửa Shyster từ các căn cứ ở Đông Đức sẽ gia tăng khả năng tấn công của các tên lửa Liên Xô nhằm vào các mục tiêu NATO tại Tây Âu và Anh Quốc”, bản báo cáo kết luận.

Một câu chuyện của CIA sau đó kể lại việc nhà lãnh đạo Sôviết Nikita Khrusốp đã hỏi một nhà thiết kế quân sự là cần bao nhiêu đầu đạn nguyên tử đủ để hủy diệt nước Anh và nước Pháp. Trước khi nhà thiết kế kịp trả lời, thì Dmitri Uxtinôp, Chủ tịch Ủy ban Công nghiệp Quân sự đã đáp ngay: “Anh 5, vài đầu nữa cho Pháp, là 7 hoặc 9, tùy phương án chọn mục tiêu “

Những tên lửa đó, như sau này biết được, là từ các trảng bố trí trong cánh rừng phía bắc Bá Linh. Các nghiên cứu được công bố tại Hoa Kỳ năm 2001 cho thấy có 2 căn cứ: Vogelsang và Fuerstenburg (cách đó 20 cây số), mỗi bên có sáu tên lửa

Nhưng ngày nay người ta biết rằng những tên lửa bố trí ở Đông Đức mùa xuân 1959 đã được đột ngột rút đi ngay trong năm sau, điều mà chính CIA cũng không hề hay biết, khiến mãi đến đầu năm 1961 họ vẫn còn lo lắng về sự hiện diện của chúng trong lãnh thổ Đông Đức.

image

Tiến sĩ Dr Paul Maddrell, thuộc Đại học Loughborough, một chuyên gia về các hoạt động tình báo của phương Tây tại Đông Đức, cho rằng việc Khrusôp triển khai vũ khí nguyên tử tại đây là xuất phát từ chiến lược “hăm dọa hạt nhân”

Paul Maddrell nhận định: “Nắm 1956, vào thời điểm xảy ra vụ khủng hoảng kênh đào Suez, Khrusốp từng đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân, và ông ta cả nghĩ việc đe dọa của mình là rất thành công, từ đó Khrusốp quan niệm hăm dọa hạt nhân (nuclear blackmail) là thứ chính sách hữu hiệu và cần thiết. Các đầu đạn nguyên tử là để hỗ trợ chính sách đó”

Thế thì tại sao họ lại nhanh chóng rút về? Maddrell cho rằng việc này liên quan đến chuyện tháng Mười một 1958, Khrusốp đã đưa ra yêu cầu các nước phương Tây phải rời khỏi Tây Bá Linh. Khi NATO triển khai kế hoạch bảo vệ Tây Bá Linh, và có thể nếu cần, vượt qua lãnh thổ Đông Đức để giải tỏa sự bao vây thành phố. Mối nguy cơ xảy ra chiến tranh toàn diện đã tăng lên rõ rệt.

“Có thể chính trong tình huống cực kỳ căng thẳng đó ông ta [Khrusốp] đã không còn muốn cất giữ đầu đạn hạt nhân ở đó. Ông không muốn nổ ra trận giao chiến hạt nhân”, Maddrell nhận định.

Hàng mấy thập niên sau đó, Vogelsang là đại bản doanh của Sư đoàn 25 Thiết giáp của Liên Xô, là căn cứ quân sự lớn hàng thứ ba của Liên Xô đặt tại Đông Đức.

Ngày nay Vogelsang là chốn đẹp đẽ thần tiên. Khó mà tưởng tượng được rằng mối kinh hãi hạt nhân đã có thể đã được phóng ra từ những cánh rừng xanh tươi đó.

Khi binh lính Sôviết ra đi, họ đã mang theo hầu hết những gì có thể mang đi được. Chỉ còn lại một vài tấm hình và áp phích rải rác quanh những tòa nhà hoang phế. Đây là những tấm hình không thể gỡ ra: như tranh vẽ Lê Nin ở mặt tường bao bên ngoài hay chuỗi tranh bích họa trên tường lớp học và nhà ăn. Chúng còn đó, lớp sơn bong tróc loang lổ.

Thiên nhiên rốt cục giành lại chỗ đứng muôn đời của nó, dù nó không thể khỏa lấp hoàn toàn những bunke bêtông. Và sẽ cần thời gian để nó lại lấp đầy toàn bộ ngôi làng với hàng quán, rạp hát, văn phòng, trường học hay chỗ tập thể thao.

 

 


A Soviet missile base in Germany that spy planes never saw

It was top-secret in 1959 and remains almost completely unknown to this day – the first Soviet nuclear missile base outside the USSR. But it is still there, crumbling and steadily being reclaimed by nature in the forests north of Berlin.

By Stephen Evans BBC News, Berlin

It is still the hardest place to find. A glade down an overgrown path which seems like any other clearing in the endless woods of Brandenburg. But on its floor, there is a strip of concrete half the size of a tennis court, with a metal plate in the middle.

This is the launch-pad for a nuclear attack on Western Europe. Soviet nuclear missiles 20 times more powerful than Hiroshima were set up here, primed to be fired at targets including London and nuclear bases in eastern England.

Three years before the Cuban missile crisis, the Soviet Union had already placed nuclear weapons on foreign soil – in this wood, in what was then East Germany.

There was once a garrison town for 15,000 people here, but nature has overgrown this outpost of empire. When the Red Army left in 1994, the trees moved back to reclaim the land.

Only rough forest paths now lead to the complex itself, near the village of Vogelsang.

^^^

In the 1950s, huge efforts were made to hide it from Western spies, both spy planes and those with prying eyes in the German population.

It may be partly because the first foreign Soviet nuclear base was so well hidden that no fuss was made. But intelligence agencies in West Germany, the US, the UK and France had a good idea what was going on.

At the heart of the ghost town remains an obelisk on which the silhouette of Lenin can be seen – just – at the pinnacle. There is a school, with peeling murals for children – swans flying and a sailing ship in bright blues and yellows. The upright figure of Lenin, and a mural of Red Army tanks in action, adorn the wall outside.

But the real business of the base lies at its other end – bunkers covered in sand for missiles and hardened concrete bunkers for warheads.

And then, down a short track, there is a clearing. This idyllic glade is where the weapons of mass destruction would have been launched.

From among the trees, the sky is barely visible – which means that the glade is barely visible from the prying spy planes of the 1960s. In this clearing among the oaks, there is a concrete platform, on which there is a metal plate for the rocket launcher to be bolted down for firing at targets up to 1,200km (750 miles) away.

London is at a distance of about 1,000km.

According to secret American intelligence reports released since the end of the Cold War, the base was set up in 1959. With Cuba, the aerial photographs were clear and the Soviet Union was confronted with incontrovertible evidence. After two weeks of tension, the Soviet Union backed down and agreed to remove the weapons.

On August 11, 1960, the CIA wrote a secret report entitled “Possible Shyster Missile Base in East Germany”. It is a series of observations that give a good idea of how disparate pieces of information add up to a clear and bigger picture.

The Americans knew there was a new missile and trailer system in use because it had been paraded before the Politburo and cameras on May Day in 1957 and 1960. The CIA dubbed it the Shyster or SS-3 (R-5 to the Russians).

But where would they deploy it? The Soviet Union was too distant for it to reach prime Western targets.

Excerpt from CIA report

So pieces of a puzzle were filled in. Some of the details seem to have come from Western agents in East Germany who were simply watching what was going on – on the roads, or at railway crossings between Poland and East Germany.

“Shortly after midnight on the morning of the 20th of April 1959, a very slow moving column of Soviet military vehicles led by two GAZ-69A type trucks was observed proceeding from the direction in which the Jueterbog-Damm airfield and a railroad loading ramp are located in a northwesterly direction along the western outskirts of Jueterbog,” the CIA report says.

A few months later, another observation was made: “A group of eight trailers probably identical to the Shyster parade trailer, based on analysis of available photography, was observed entering East Germany by rail at Frankfurt-Oder, on 9 September, 1959.”

Khrushchev saw nuclear blackmail as a valuable policy initiative and he needed therefore, the nuclear missiles to back that up”

Dr Paul Maddrell Loughborough University

A number of special military train shipments, suspected of carrying unidentified Soviet missiles and related equipment were also spotted at several other locations in East Germany during 1959.

From all of the clues, the CIA concluded that the site in the forest north of Berlin was to be used for mobile launchers of nuclear weapons.

“The use of Shyster missiles from bases in East Germany would strengthen the Soviet missile capability against many Nato targets in Western Europe and England,” the report concluded.

A later CIA account told a story of the Soviet leader, Nikita Khrushchev, asking a military designer how many nuclear missiles it would take to destroy Britain and France. Before the designer could reply, the account continued, “Dmitri Ustinov, chairman of the Military-Industrial Commission, replied, ‘Five. A few more for France – seven or nine, depending on the choice of targets.'”

Those missiles, it turns out, would have come from the glades in the forest north of Berlin. Research published in the US in 2001, suggests that there were two bases – Vogelsang and Fuerstenburg, 20km away – each with six missiles.

But it is also now known that the missiles deployed in East Germany in spring 1959, were suddenly withdrawn later in the year – unbeknownst to the CIA, which was still worrying about their presence in the country in early 1961.

Loughborough University’s Dr Paul Maddrell, an expert on Western intelligence operations in East Germany, believes Khrushchev deployed the weapons as part of a policy of “nuclear blackmail”.

“He threatened in 1956, at the time of the Suez Crisis, to use nuclear weapons, and he very much regarded his threat as successful, so he saw nuclear blackmail as a valuable policy initiative and he needed, therefore, the nuclear missiles to back that up,” he says.

And why were they so quickly withdrawn? Maddrell says it could be connected with Khrushchev’s demand in November 1958 that Western countries should leave West Berlin. As Nato put in place plans to defend West Berlin – and if necessary to cross East German territory in order to relieve the encircled city – the threat of a full-scale war rose dramatically.

“It may be that in those very, very tense circumstances he [Khrushchev] didn’t want nuclear missiles anywhere in the region,” suggests Maddrell. “He didn’t want a nuclear exchange.”

For decades after that, Vogelsang was the headquarters of the Soviet Union’s 25th Tank Division, the third biggest Soviet military base in East Germany.

Today it is a beautiful and eerie place. It is hard to believe that nuclear terror could have been unleashed from these woods.

When the Soviet soldiers left, they took virtually everything they could. Only a few loose photographs and posters are scattered around the derelict buildings. Pictures that couldn’t be moved – like the painted portrait of Lenin on an outside wall or the murals in the school and canteen – remain, their paint flaking.

Nature is re-asserting itself, though even nature can’t over-run a concrete nuclear bunker. And it will take time for it to completely over-run a whole town with a theatre, shops, offices, a gym and a school.

Slideshow production by Paul Kerley. Music courtesy of KPM Music