Category Archives: 3.| CHỦ ĐIỄM DỊCH THUẬT |

thư của rsf, tháng 12

 

     
 

Chers amis,
Je vous écris dans l’urgence. L’année écoulée s’annonce hélas tragique, à plusieurs titres. D’un côté, le bilan annuel établi par nos chercheurs est catastrophique : il fait état d’une hausse de 33% du nombre de journalistes tués en 2012 par rapport à 2011.

Jamais ce bilan n’a été aussi macabre depuis 1995. Nos équipes vont donc devoir redoubler d’efforts: renforcer nos programmes de défense et de protection des journalistes persécutés et emprisonnés, intensifier notre présence sur le terrain et nos actions auprès des autorités.

Mais face à ces besoins en hausse, les dons sont en baisse !

Notre collecte de fin d’année est durement frappée par la crise, et ces chiffres là sont, eux aussi, très préoccupants. RSF est plus que jamais face à une impasse budgétaire: rassembler des fonds est de plus en plus difficile, et pour cette raison, chaque don compte : nous avons besoin de vous à nos côtés !

N’attendez pas pour agir, si vous avez la possibilité de nous aider, je vous invite à le faire sur notre formulaire de dons en ligne 100% sécurisé. En cas de difficulté, n’hésitez pas à nous appeler au 01 44 83 84 64.

Quel que soit le montant de votre don, il fera la différence et vous donnera droit à une déduction fiscale de 66% de son montant sur vos impôts.

Cette année plus que jamais, votre don est vital pour tous ceux qui, à travers le monde, se battent pour la liberté de l’information.

Je vous souhaite de très joyeuses fêtes de fin d’année et je vous remercie d’avance de votre aide, votre compréhension et votre générosité.

Très cordialement,
Perrine Daubas
Responsable de la collecte
Reporters sans Frontières https://donate.rsf.org

47 rue Vivienne
75002 Paris – France
Tel. +33 1 44 83 84 84
Fax. +33 1 45 23 11 51

PS: N’oubliez pas, c’est grâce à vos dons que nous restons indépendants. Nous comptons sur vous !

Vous recevez ce message car vous êtes abonné à notre lettre d’information sur l’adresse suivante : hoa.minhthien@gmail.com
Ne plus recevoir de messages de notre part, rendez-vous sur cette page.

Các bạn thân mến,
Tôi phải khẩn hoản viết cho các bạn đây. Xin được thông báo rằng tình hình năm qua, về nhiểu phương diện, hởi ôi, rất bi đát. Phần thì, ngân quỹ hàng năm của cộng tác viên điều tra của chúng tôi rất tang thương:
Advertisements

bbc dịch tiếng Anh

 

 

Các BTV người Việt lớp mới của BBC những năm 2010 đã càng ngày tỏ ra họ kém coi trọng cả tiếng Anh và ngôn ngữ mẹ đẻ của mình là tiếng Việt. Họ sẵn sàng dịch “suicide bomber” thành “đánh bom cảm tử”, trong khi bọn này chỉ biết tấn công vào quán ăn nhà hàng làm chết những người dân vô tội, thực chất chỉ là những cách tấn công hèn nhát. Những người đánh bom này không đủ can đảm để từ chối một nhiệm vụ không chính đáng, mơ ước được lên thiêng đàng bằng mọi giá. Trong khi cả thế giới dùng chữ “đánh bom tự sát”, đánh bom liều chết”, v.v.. thì có nhiều BTV của BBC dịch là “đánh bom cảm tử”. Họ không biết mình đã xúc phạm những người chết vô tội, vo tình tôn vinh những kẻ giết người.

 

Trong bài khóa dưới đây BBC Vietnamese lại dạy cho những người ham học tiếng Anh cái mầm mống của “tiếng Việt lỏng lẻo, không chính xác”.

Bài khóa – Transcript Bản dịch – Translation

Over a hundred metres above the Zambezi River.

With just a cord tied around her feet, an Australian adrenaline junkie launches herself into the void.

But Erin Langworthy’s bungee jump became a nightmare when the line broke.

She got through the ordeal in one piece – here describing how she managed to swim to the river bank.

Erin suffered only cuts and bruises and thinks it’s a miracle to be alive.

Cao hơn 100 thước so với mặt nước sông Zambezi.

Chỉ với một sợi dây buộc quanh chân, một cô gái người Úc thích những hành động mạnh và mạo hiểm đã nhảy vào khoảng trống bất tận.

Nhưng cuộc nhảy bungee của Erin Langworthy đã biến thành cơn ác mộng khi sợi dây bị đứt.

Cô đã thoát chết và không bị gãy chân gãy tay gì (hoàn toàn nguyên vẹn) – và kể lại cô đã xoay xỏa bơi vào bờ như thế nào.

Erin chỉ bị xây xước và thâm tím và cho rằng việc cô sống sót là một điều thần kỳ.

 

Thực vậy “ .. launches herself into the void” dịch thành “nhảy vào khoảng trống bất tận” . Không ai có thể nhảy vào khoảng trống bất tận, trừ khi đang bay trong vũ trụ… Nguyên tác tiếng Anh chỉ là “into the void”, vào khoảng không. Nguyên tác không hề dùng chữ bottomless .. abysmal .. ta không nên thêm thắt vào. Bungee jump là một cú nhảy, không việc gì phải dịch là “Nhưng cuộc nhảy bungee của Erin Langworthy đã biến thành cơn ác mộng khi sợi dây bị đứt.” Cuộc chỉ những diễn biến dài hơi có tổ chức tuần tự, như cuộc chơi, cuộc chiến. Ngôn ngữ nào cũng có những nhóm-từ-gắn-bó-với-nhau (collocations) mà người dạy hay học tiếng phải biết, người Việt nói “mang giày” mặc áo”, mà không nói “mặc giày “mang áo”.

Ngay câu mở đầu”:Cao hơn 100 thước so với mặt nước sông Zambezi. Chỉ với một sợi dây buộc quanh chân, một cô gái người Úc thích những hành động mạnh và mạo hiểm đã nhảy vào khoảng trống bất tận.”

Người đọc không biết ai cao hơn? Thực ra phải viết là “Từ độ cao trên 100 thước so với mặt nước sông Zambezi” hoặc “Từ hơn 100 mét trên mặt sông Zambezi…” thì nó mới liên kết được với câu kế tiếp “một cô gái người Úc thích những hành động mạnh và mạo hiểm đã nhảy vào khoảng trống bất tận.”. Vả lại câu dịch thứ hai dài dòng này chi nên viết là  “cô gái người Úc thích cảm giác mạnh  đã nhảy vào khoảng không.”.


chữ "to" trong tiếng Anh

trong từ điển, nghĩa chính của to chỉ ► phương hướng,  cùng họ với toward, nên nó có nghĩa:

  • hướng về, hướng đến hay đến: He goes to school
  • ở hướng, về hướng: the school is to the north of the city

nghĩa kế cận là

  • đối với: to me, he’s a very good friend

có một nghĩa ít được nói đến, thường gặp trong các câu như:

  • secretary to the director (thư ký cho/ của giám đốc), chief physician to the Queen (y sĩ trưởng của Nữ hoàng)
  • the right to association (quyền được lập hội); the right to privacy (quyền được riêng tư)  //{cấu trúc right to +noun}

to còn là hư từ trước các động từ nguyền mẫu, vd_

  • To be or not to be, that is the question (Hamlet)

     


những lỗi sai trong suốt

gọi chúng là những lỗi sai trong suốt, vì hầu hết người đọc sẽ bỏ qua nó, trừ phi họ đọc lại nguyên bản, và chú ý đến cách nói của tác giả.

1. ý chính bị chuyển thành câu phụ

A popular television series, “Advance toward the Republic”, that focused on those reforms and was aired in 2003, was cut by censors before the series finished, and banned from rebroadcast

=

Một loạt phim truyền hình ăn khách tên là “Tiến tới Nền Cộng hòa” đã tập trung vào những cải cách này và được chiếu năm 2003; loạt phim này đã bị cơ quan kiểm duyệt cắt trước khi chiếu hết, và bị cấm chiếu lại (46)

 

Loạt phim truyền hình ăn khách “Tiến tới Nền Cộng hòa” xoáy vào những cải cách này từng được khởi chiếu năm 2003, đã bị cơ quan kiểm duyệt cắt trước khi chiếu hết, rối bị cấm phát lại. (39)

ngắn hơn 15%, chính xác hơn

RATIONALE:

tác giả muốn nói

  1. ý chính: phim “Tiến tới Nền Cộng hòa” đã bị cơ quan kiểm duyệt cắt trước khi chiếu hết, rối bị cấm phát lại
  2. ý bổ sung: nội dung bộ phim này xoáy vào những cải cách, từng được khởi chiếu năm 2003

SAI LẦM CỦA NGƯỜI DỊCH là đưa 2 ý này song song, ý phụ trước ý chính, không tỏ rõ chủ điểm của toàn bộ diễn ngôn.


Những chỗ có thể học hỏi từ một dịch giả sống trước chúng ta 100 năm

Khi đọc những dòng này của Plutarque

Les Athéniens avaient conçu une haine violente contre les habitants de Mégare, leurs plus proches voisines. Ils décidèrent, par un décret, que, si quelqu’un d’entre eux était pris sur le territoire d’ Anthènes, il serait puni de mort.

Ta có thể dịch tạm như sau:

Người thành Anthène ngày trước cổ Hy lạp từng có một mối thù hằn dữ dội với dân thành Mégare, vốn là hàng xóm gần gủi nhất của họ. Họ quyết ra một dụ rằng bắt được ai sang đất mình, thì đem ra làm tội chết

Nhưng học giả Nguyễn Văn Vĩnh, sống trước chúng ta gần 100 năm, ở đoạn văn:

Ils décidèrent, par un décret, que, si quelqu’un d’entre eux était pris sur le territoire d’ Anthènes, il serait puni de mort.

ông đã dịch rất tài tình:

Lập lệ rằng hễ bắt được ai trên đất ấy sang đất mình, thì đem ra xử tử.

Với nguyên một mệnh đề phức Ils décidèrent, par un décret, que, ông chỉ cần dùng 3 chữ  Lập lệ rằng … Như vậy chỉ còn nửa số chữ, dùng cách viết vô nhân xưng, tỉnh lược tài tình mà không làm mất đi nghĩa nào, lại dụng chữ tiếng Hán Việt rất hay, hại chữ lập và lệ, người bình dân vẫn hiểu được, mà giữ được giọng văn trang trọng của luật lệ (décret) được tạo lập (décider) trong bài..

 


tốt nhất có thể, sớm nhất có thể

08/08/2011 at 7:57 PM

ngày nay chúng ta rất thường nghe các phát thanh viên TV, radio nói những câu không-Việt như:

(1) Anh yên tâm , tôi sẽ đến trong thời gian sớm nhất có thể… (2) Tôi sẽ cố gắng hết sức có thể … v.v.. và v.v..

Nghe hoài thành quen, không ai thấy khó chịu … và những cách nói thông thường của người Việt dần bị bỏ quên …
Điều thứ nhất: hai chữ có thể là thừa, trong thời gian sớm nhất là cách nói lai căng mới du nhập gần đây ảnh hưởng từ câu “in the earliest time possible” của tiếng Anh, mà ý nghĩa chẵng có gì hơn là càng sớm càng tốt.
Một tài xế taxi “lành mạnh”, không phải “đóng phim”, sẽ không phát ngôn câu (1), (2) mà sẽ nói, đại loại:

(3) Anh yên tâm, tôi sẽ cố đến càng sớm càng tốt.
(4)
OK, tui sẽ ráng tới sớm hết sức, và v.v.. 

Tương tự như vậy, những câu tiếng Anh như:

  • …  collected what information I could about languages |Trudgill|
  • … collected as much information as I could about languages

không nên dịch là “cố thu nhận nhiều kiến thức nhất mà tôi có thể”, mà  đơn giản chỉ là:

  • … thu nhận cho mình vào các kiến thức về ngôn ngữ càng nhiều càng tốt; hoặc
  • … cố ôm/ thâu tóm/ thu nhận vào càng nhiều kiến thức về ngôn ngữ càng tốt.

Và chúng ta có thể làm cho tiếng Việt tự nhiên hơn!


danh từ sử dụng với chức năng tính từ (bổ nghĩa)

NATO Says [Precision Strikes] Have Hit Libyan TV Transmitters
A few hours ago, NATO conducted a precision air strike that [disable]d three ground-based Libyan state TV satellite transmission dishes in Tripoli:

 

|  g . l . o . s . s  |


  • precision strike: cú tấn công chính xác; {sử dụng công nghệ chính xác, khác với 1 cú tấn công có kết quả chính xác accurate nhưng sử dụng công nghệ thông thường (conventional, traditional, usual, common, ordinary)
  • disable: làm ngưng hoạt động; làm tê liệt
  • transmission dish(es): đĩa parabol truyền phát sóng