Category Archives: 1.| BÀI DỊCH THAM KHẢO |

lưsenkô, bài học cho người trí thức đảng trị

Chế độ cộng sản Sô viết từng có những thành tựu đáng kể về khoa học. Họ đã là người đầu tiên đưa người lên vũ trụ khiến cả thế giới kinh ngạc. Từ thời Sa hoàng nước Nga đã là cái nôi sản sinh những nhà khoa học vĩ đại, trong đó những tên tuổi Pavlov, Mendeleev là rất quen thuộc với nhiều học sinh trên khắp thế giới. Chế độ chuyên chế  của Lê nin và tiếp theo đó là nền độc tài Stalin, luôn lớn tiếng đề cao vai trò của khoa học kỹ thuật, tuyên bố  sẽ vượt qua nền khoa học “chạy theo đồng tiền” của thế giới phương Tây. Thực tế hơn nửa thế kỷ qua (1950 –2000) nước Nga sô viết đã không hề hiện thực cái hứa hẹn đầy tham vọng đó. Xã hội Sô viết đã đi thụt lùi so khá xa so với khoa học và kỹ thuật của tư bản phương Tây xét về nhiều mặt, từ tiện nghi sinh hoạt, khoa học kỹ thuật cũng như văn hóa con người. Câu hỏi tại sao?


Lysenkoism refers to an episode in Russian science featuring a non-scientific peasant plant-breeder named Trofim Denisovich LysenkoTrofim Denisovich Lysenko [1898-1976]. Lysenko was the leading proponent of Michurianism during the Lenin/Stalin years. I. V. Michurin, in turn, was a proponent of Lamarckism. Lamarck was an 18th century French scientist who argued for a theory of evolution long before Darwin. Lamarck’s theory, however, has been rejected by evolutionary scientists because it is not nearly as powerful an explanation of evolution as natural selection.

According to Lamarck, evolution occurs because organisms can inherit traits which have been acquired by their ancestors. For example, giraffes find themselves in a changing environment in which they can only survive by eating leaves high up on trees. So, they stretch their necks to reach the leaves and this stretching and the desire to stretch gets passed on to later generations. As a result, a species of animal which originally had short necks evolved into a species with long necks.

Natural selection explains the long necks of the giraffes as a result of the workings of nature which allowed the species to feed off of the leaves which grow high on trees rather than graze as short-legged, short necked animals are prone to do. There was no purposive behavior which was a response to the environment which was then passed on to later generations. There was simply an environment which included trees with leaves up high and that was a favorable food source to long-legged, long-necked animals such as the giraffe. In fact, according to natural selection, if that were the only food source available, only animals with long- necks, or animals which can climb or fly, would survive. All others would become extinct. There is no plan here, divine or otherwise, according to natural selection. Furthermore, there is nothing special signified by the fact that a species has survived. Survival of the fittest means only that those who have survived were fit to survive. It doesn’t mean that those who survive are superior to those species which don’t. They’ve survived because they were fit to adapt to their environment, e.g., they had long necks when there was a good supply of food readily available high up in the trees and there were no other catastrophic disadvantages to their height. For example, if a species got so tall that it became impossible to mate, it would become extinct. Or, if the only food source on high happened to have a substance in it which rendered giraffes sterile, there would be no more giraffes, no matter how hard they tried to will themselves potent.

Lamarckism is favored by those who see will as the primary driving force of life, e.g., the 20th century French philosopher Henri Bergson. Evolution is hated by many of those who believe a god created everything and everything has a purpose: the fundamentalist teleologists of the world. One might think that Marxists would prefer Darwin’s theory of evolution with its mechanical, materialistic, deterministic, non-purposive concept of natural selection. Lamarckism looks like it might be preferred by free market advocates with their emphasis on will, effort, hard work and choice. But then Russia and the Soviet Union weren’t really Marxists. They turned the dictatorship of the proletariat into the dictatorship of the professional dictator (Lenin, then Stalin). And even with the death of Stalin, the dictatorship of the communist party leaders who controlled everything, including the economy, took over.

In any case, Michurin’s views on evolution found favor with the party leadership in the Soviet Union. When the rest of the scientific world were pursuing the ideas of Mendel and developing the new science of genetics, Russia led the way in the effort to prevent the new science from being developed in the Soviet Union. Thus, while the rest of the scientific world could not conceive of understanding evolution without genetics, the Soviet Union used its political power to make sure that none of their scientists would advocate a genetic role in evolution.

It was due to Lysenko’s efforts that many real scientists, those who were geneticists or who rejected Lamarckism in favor of natural selection, were sent to the gulags or simply disappeared from the USSR. Lysenko rose to dominance at a 1948 conference in Russia where he delivered a passionate address denouncing Mendelian thought as “reactionary and decadent” and declared such thinkers to be “enemies of the Soviet people” (Gardner 1957). He also announced that his speech had been approved by the Central Committee of the Communist Party. Scientists either groveled, writing public letters confessing the errors of their way and the righteousness of the wisdom of the Party, or they were dismissed. Some were sent to labor camps. Some were never heard from again.

Under Lysenko’s guidance, science was guided not by the most likely theories, backed by appropriately controlled experiments, but by the desired ideology. Science was practiced in the service of the State, or more precisely, in the service of ideology. The results were predictable: the steady deterioration of Soviet biology. Lysenko’s methods were not condemned by the Soviet scientific community until 1965, more than a decade after Stalin’s death.

Could something similar happen in the U.S.? Well, some might argue that it already has. First, there is the creationist movement which has tried, and at times been successful, in banning the teaching of evolution in public schools. With Duane Gish leading the way, who knows what would happen if Pat Robertson became President of the United States and Jerry Falwell his secretary of education. Then, of course, there are several well-known and well-financed scientists in America who also seem to be doing science in the name of ideology: not the ideology of fundamentalist Christianity but the ideology of racial superiority. Lysenko was opposed to the use of statistics, but had he been clever enough to see how useful statistics can be in the service of ideology, he might have changed his mind. Had he seen what J. Philippe Rushton, Arthur Jensen, Richard Lynn, Richard Herrnstein or Charles Murray have done with statistical data to support their ideology of racial superiority, Lysenko might have created a department of Supreme Soviet Statistics and proven with the magic of numbers the superiority of Lamarckism to natural selection and genetics.

A large no of students have already passed their HP0-J48 exams using exam Juniper Certification study guide, 70-686 Certification resources and 650-367 ebook exam kit, here is your chance to be one of them using 156-315.71 vce book exams guide and 646-671 certification dumps


báo cáo Tài chính công ty TNHH DFS Singapore (Pte)


Cty TNHH DFS Singapore (Pte)
Thuyết minh cho Báo cáo Tài chính

Cho năm tài chính kết thúc vào ngày 31 tháng Mười hai 2011

DFS Singapore (Pte) Limited
Directors’ Report

Các Giám đốc trong Hội đồng Quản trị công ty hân hạnh trình bày báo cáo với các thành viên Báo cáo Tài chính đã được kiểm toán của công ty TNHH DFS Singapore (Pte) (sau đây gọi tắt là “Công ty”) cho năm tài chính kết thúc vào ngày 31 tháng Mười hai 2011,

1. Các Giám đốc Hội đồng Quản trị tham dự:

Những Giám đốc hiện diện tại văn phòng Công ty vào ngày của báo cáo này gồm có các ông:

Edward Joseph Brennan,

Stephen Frederick Mangum,

Craig Grant McKenna,

Timothy Thomas De Lessio,

M-+ichael Wfliam Schriver.

2. Về các thỏa thuận cho Hội đồng Quản trị của Công ty sở hữu cổ phần hay trái khoản

Ở bất cứ thời gian nào trong năm tài chính hoặc tại thời điểm kết toán năm tài chính, Công ty không được tham gia vào các thỏa thuận hay hợp đồng nào mà mục đích, một phần hay toàn bộ, dẫn tới việc cho phép các thành viên Hội đồng Quản trị của Công ty có thể thu lợi bằng việc sở hữu cổ phần hay trái khoản của Công ty hoặc bất kỳ bộ phận nào khác của Công ty.

3. Vốn cổ phần và trái khoản của Hội đồng Quản trị:

Các giám đốc trong Hội đồng Quản trị sau đây, đã nắm giữ chức vụ tại thời điểm kết thúc năm tài chính, theo sổ đăng ký nắm giữ cổ phần (shareholdings) của các giám đốc, được ghi sổ theo quy định của phần 164 của Đạo luật Doanh nghiệp Singapore, Cap.50, có lợi ích vể cổ phần quyền chọn (share options) của LVMH Moët Hennessy, Louis Vuiton S.A., là công ty nắm cổ phần khống chế, như sau:

Số cổ phần quyền chọn nắm giữ

Tên giám đốc Thời điểm 1.1.2011 Thời điểm 31.12.2011

Edward Joseph Brennan 63,024 47,892

Stephen Frederick Mangum 7,978 8,578

Craig Grant McKenna 2,355 957

Timothy Thomas De Lessio 6,465 5,814

Michael Williarn Schriver 2,837 3.621

Không có thay đổi nào đối với các lợi ích nêu trên trong Công ty giữa thời điểm kết thúc năm tài chính và ngày 2 tháng Sáu 2012. Trừ trường hợp được biểu lộ trong tường trình này không có giám đốc nào đang giữ chức vụ tại thời điểm kết thúc năm tài chính có lợi ích trong cổ phần, cổ phần quyền chọn, thương phiếu chứng khoán, hoặc trái khoản của Công ty hoặc các công ty liên quan, hoặc ở thời điểm bắt đầu hay thời điểm kết thúc năm tài chính.

(hết trang 1)

Báo cáo của Kiểm toán Độc lập

Cho năm tài chính kết thúc vào ngày 31 tháng Mười hai 2011

Gửi các thành viên của DFS Singapore (Pte) ,

Tường trình về Báo cáo Tài chính

Chúng tôi đã thực hiện kiểm toán đối với Báo cáo Tài chính của Công ty TNHH DFS Singapore (Pte) (gọi tắt là Công ty) ở các trang từ 6 đến 25, bao gồm bảng cân đối tại thời điểm 31 tháng Mười hai 2011, the statement of comprehensive income, the statement of charges in equity và báo cáo lưu chuyển tiền mặt của Công ty cho năm tài chính kết thúc ở thời điểm đó, và một tóm tắt về các chế độ kế toán và các thông tin diễn giải khác .

Trách nhiệm của Ban lãnh đạo đối với Báo cáo Tài chính

Ban lãnh đạo Công ty có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện báo cáo tài chính sao cho cung cấp được một cái nhin công bằng và trung thực, theo đúng các điều khoản Đạo luật Công ty Singapore (sau đây gọi tắt là Đạo luật) và Quy chuần Báo cáo Tài chính Singapore, thiết kế và duy trì hthống kiểm soát kế toán nội bộ đủ hiệu quả để cung cấp sự đảm bảo rằng các tài sản được bảo vệ, không bị thất thoát do việc sử dụng hay phân bổ sai quy định, các giao dịch được phê duyệt đúng cách và ghi chép đầy đủ và đúng đắn sao cho có thể thực hiện tốt báo cáo lãi /lỗ , cân đối tài chính một cách trung thực duy trì tính trách nhiệm trong quản lý tài sản của công ty.

Trách nhiệm của Cơ quan Kiểm toán

Trách nhiệm của chúng tôi là đưa ra ý kiến đối với Báo cáo Tài chính này căn cứ trên kết quả kiểm toán của mình. Chúng tôi thực hiện việc kiểm toán theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc gia Singapore (Singapore Standards on Auditing). Các tiêu chuẩn này đòi hỏi chúng tôi tuân thủ các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp cũng như trong khi lập khoạch và thực hiện công việc kiểm toán hầu có thể có được đánh giá đáng tin cậy liệu Báo cáo Tài chính có hay không có những sai lệch quan trọng nào không.

Công tác kiểm toán bao gồm những qui trình tìm kiếm các bằng chứng về các số tiền và những biểu hiện của chúng trong Báo cáo Tài chính,

Các qui trình được lựa chọn tùy thuộc vào sự suy xét của người kiểm toán, bao gồm cả việc đánh giá khả năng có sai lệch đáng kể trong báo cáo tài chính., hoặc cố tình hoặc do sai lỗi. Trong khi giả thiết những nguy cơ đó, người kiểm toán phải xem xét công tác kiểm soát nội bộ liên quan đến việc soạn lập báo cáo

tài chính, bảo đảm đưa ra một cách nhìn công bằng và trung thực để có thể thiết kế các qui trình kiểm toán thỏa đáng cho tình huống, mà không nhằm mục đích đưa ra ý kiến riêng về hiệu quả cùa công tác kiểm tra nội bộ. Công tác kiểm toán cũng bao gồm việc đánh giá về mức độ hữu hiệu của các chế độ kế toán đang được sử dụng và tính hợp lý trong những lượng định kế toán của Ban lãnh đạo cũng như việc đánh giá tổng thể về bản trình bày Báo cáo Tài chính

Chúng tôi tin tưởng rằng các chứng cứ kiểm toán chúng tôi có được là đầy đủ và thỏa đáng để làm cơ sở cho những kết luận kiểm toán của mình.

(hết trang 2)

1. Thông tin về Công ty

Công ty TNHH DFS Singapore (Pte) {DFS Singapore (Pte) Limited, gọi tắt là Công ty} là một công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập và đăng ký tại Singapore. Công ty mẹ trực tiếp của nó là DFS Venture Singapore (Pie) Limited, cũng được đăng ký thành lập tại Singapore, Công ty chủ quản sau cùng là LVMH Moët Hennessy Louis Vuitton S.A., được đăng ký tại France. Địa chỉ đăng ký của Công ty đặt tại 50 Công trường Raffles Place, #GB-00, Singapore, Tòa nhà Land Tower, Singapore 048523,

Hoạt động chính của Công ty bao gồm cung ứng hỗ trợ kỹ thuật: trong lĩnh vực marketing, khuyến mãi bán hàng, dịch vụ hậu mãi và kỹ thuật bán hàng cho các khách hàng bán buôn của công ty chủ quản, tức là Công ty TNHH OFS Venture Singapore.

Công ty có văn phòng đại diện tại Việt Nam hoạt động như văn phòng liên lạc để làm công tác nghiên cứu thị trường, các hoạt động xúc tiến bán hàng, và mở rộng các dự án hợp tác đầu tư tại Việt Nam.

2. Tóm tắt các Chế độ kế toán chủ đạo.

2.1 Cơ sở của việc lập báo cáo:

Báo cáo Tài chính của Công ty được lập theo Quy chuần Báo cáo Tài chính Singapore (“FRS”),

Báo cáo Tài chính được làm trên cơ sở chi phí lịch sử (historical cost) ngoại trừ các điểm nêu ra trong chế độ kế toán dưới đây.

Báo cáo Tài chính được trình bày bằng đơn vị tiền Đô la Singapore (SGD hoặc S$).

2.2 Các thay đổi trong chế độ kế toán

Các chế độ kế toán được sử dụng nhất quán với chính sách của năm tài chính trước đó, trừ việc năm tài chính hiện hành, Công ty Xăng sử dụng toàn bộ chuẩn mực tu chỉnh và cách diễn giải mới cho quy tắc FRS (1 NT FRS) sẽ có hiệu lực cho các niên hạn bắt đầu từ hoặc sau 1 tháng 1 năm 2011. Việc sử dụng tiêu chuẩn và cách diễn giải mới này không ảnh hưởng gì đến hiệu quả tài chính hoặc vị thế kinh doanh của Công ty.

(hết trang 3)

2. Tóm tắt về các chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2,3 Chuẩn mực đã ban hành nhưng chưa có hiệu lực thi hành

Công ty chưa đưa vào áp dụng những chuẩn mực sau đây, tuy đã được ban hành nhưng chưa có hiệu lực thi hành:

Mô tả Có hiệu lực cho các niên hạn tài chính
bắt đầu hoặc sau:

Tu chỉnh quy tắc FRS 107, về Công bố và Chuyển nhượng Tài chính 01 tháng 7, 2011

Tu chỉnh quy tắc FRS 1, về Cách trình bày các hạng mục của Thu nhập Tổng 01 tháng 7, 2012

Tu chỉnh quy tắc FRS 19, Phúc lợi Công nhân viên 01 tháng 1, 2013

Tu chỉnh quy tắc FRS 28, về Đầu tư trong các công ty thành viên và liên doanh 01 tháng 1, 2013

Tu chỉnh quy tắc FRS 112, về Khai trình lợi nhuận trong các doanh nghiệp khác 01 tháng 1, 2013

Tu chỉnh quy tắc FRS 113, về Các phép lượng giá giá trị thị trường 01 tháng 1, 2013

Tu chỉnh quy tắc FRS 107, Khai trình – Bù trừ Tài sản Tài chính và Công nợ Tài chính 01 tháng 1, 2013

Tu chỉnh quy tắc FRS 32, Bù trừ Tài sản Tài chính và Công nợ Tài chính 01 tháng 1, 2014

Hội đồng Quản trị đánh giá rằng việc áp dụng các chuẩn mực trên sẽ không gây ảnh hưởng nhiều đến Báo cáo Tài chính trong giai đoạn áp dụng ban đầu .

2.4 Đơn vị tiền tác nghiệp và ngoại tệ

(i) Đơn vị tiền tác nghiệp

Báo cáo Tài chính của Công ty sẽ được thể hiện bằng đô la Singapore, là đơn vị đồng tiền tác nghiệp của Công ty,

(ii) Giao dịch bằng ngoại tệ

Giao dịch bằng ngoại tệ sẽ được tính toán qua đồng đô la Singapore, và ghi chép trong công nhận ban đầu qua các đơn vị tiền tác nghiệp ở tỉ giá hối đoái gần sát với các đồng tiền chủ chốt tại thời điểm giao dịch. Các tài sản và nợ bằng tiền được chỉ định bằng ngoại tệ sẽ được tính toán bằng tỉ giá hối đoái như ở những ngày giao dịch ban đầu. Các mục tài sản không phải là tiền được tính toán theo giá thị trường (fair value) bằng đồng ngoại tệ sẽ được chuyển đổi thông qua tỉ giá hối đoái tại thời điểm định giá thị trường

Các sai lệch hối đoái phát sinh từ các thanh toán các tài sản tiền hoặc khi chuyển đổi các tài sản này vào thời điểm bảng cân đối được kết toán là lãi / lỗ. Công ty đạt lãi ròng giao dịch bằng ngoại tệ là $200,251 trong năm 2001 và lỗ $459,997 trong năm 2010

(hết trang 4)

2. Tóm tắt các chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2.5 Sự giảm giá các tài sản phi tài chính

Công ty sẽ đánh giá tại từng thời điểm báo cáo liệu có những dấu hiệu cho thấy có sự suy giảm giá trị đối với một tài sản nhất định. Nếu có một dấu hiệu như vậy, hoặc khi có yêu cầu kiểm định hằng năm về suy giảm đối với một tài sản, Công ty sẽ đưa ra lượng định con số có thể thu hồi của tài sản (recoverable amount)

Giá trị thu hồi của một tài sản là con số cao hơn, tính theo giá trị thị trường, của một tài sản hoặc đơn vị hoạt động (cash-generating unit) đem trừ đi chi phí để bán và giá trị sử dụng và được xác định cho một tài sản riêng rẽ, trừ phi tài sản này không phát sinh luồng tiền vào, thường là độc lập với các luồng tiền của các tài sản hay nhóm tài sản khác. Khi mà con số kết chuyển của một tài sản hay một đơn vị hoạt động vượt quá giá trị thu hồi, tài sản này bị xem là suy giảm và phải bị ghi giảm xuống bằng giá trị thu hồi. Khi tính toán giá trị sử dụng (value-in-use), dòng tiền tương lai ước định sinh ra do các tài sản sẽ được giảm giá xuống giá trị hiện tại bằng cách áp dụng tỉ số chiết khấu trước thuế phản ảnh đánh giá thị trường hiện hành với giá trị theo thời gian của tiền và các rủi ro liên quan đến tài sản. Khi xác định giá trị thị trường (fair value) trừ đi chi phí bán tài sản, phải xem xét các giao dịch thị trường, nếu có, xảy ra gần trước đó. Nếu không thể xác định có các giao dịch đó, thì cần áp dụng một mô hình đánh giá thích hợp. Các tính toán lượng giá này cần được hỗ trợ bằng các chỉ số đánh giá, giá cổ phần niêm yết của các công ty con giao dịch công bố hoặc các chỉ số giá trị thị trường khác có được vào lúc đó.

Công ty tính toán giá trị suy giảm căn cứ trên ngân sách chi tiết và các tính toán dự báo được thực hiện riêng rẽ từ các đơn vị hoạt động (tạo sinh dòng tiền) mà các tài sản riêng rẻ được phân bổ ở đó. Những ngân sách chi tiết và các tính toán dự báo thường bao phủ trên một thời hạn 5 năm. Đối với những chu kỳ dài hơn, một tỉ lệ tăng trưởng dài hạn được tính toán và áp dụng để trù liệu cho dòng tiền tương lai sau năm thứ năm.

Các lỗ lã do suy giảm giá trị tài sản được công nhận là lãi hay lỗ của các hạng mục chi phí theo đúng chức năng của tài sản bị suy giảm.

Một lượng định sẽ được đưa ra tại mỗi thời điểm báo cáo, cho biết liệu có dấu hiệu nào cho thấy có lỗ lã nào trước đây được công nhận do tài sản suy giảm, nay đã giảm nhẹ hơn hoặc không còn nữa. Nếu có dấu hiệu đó, Công ty sẽ ước lượng giá trị thu hồi đối với tài sản hoặc đơn vị hoạt động đó Một giá trị lỗ được công nhận do suy giảm tài sản có thể được đảo ngược nếu chính các giả thiết trước đó được sử dụng để tính toán giá trị thu hồi của tài sản có thay đổi từ lần lượng định lỗ lã do suy giảm được công nhận. Sự đảo ngược sẽ được giới hạn sao cho giá trị tài sản kết chuyển không vượt quá giá trị thu hồi mà cũng không lớn hơn giá trị kết chuyển, không tính khấu hao, đã được tính nếu không chấp nhận lỗ lã do suy giảm đối với tài sản trong những năm trước đó. Sự đảo ngược này phải được được công nhận là lãi / lỗ

(hết trang 5)

2. Tóm tắt các chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2. 6 Tài sản Tài chính

Công nhận ban đầu và tính toán giá trị

Tài sản tài chính được công nhận khi, và chỉ khi, Công ty trở thành một bên tham gia điều khoản hợp đồng của một công cụ tài chính. Công ty sẽ xác định việc phân loại các tài sản tài chính của mình ở giai đoạn công nhận ban đầu

Khi tài sản được công nhận ban đầu, nó được tính toán theo giá thị trưởng, có tăng thêm, trong trường hợp tài sản tài chính không đúng giá thị trường trên kết toán lãi /lỗ , chi phí giao dịch trực tiếp liên quan.

Các tính toán tiếp theo

Các món vay nợ và khoản thu là những tài sản tài chính không-phái sinh với các khoản chi trả khả định hoặc không đổi được niêm yết trên thị trường hoạt động. Tiếp theo việc công nhận ban đầu, nợ và các khoản thu được tính toán với giá trị khấu hao áp dụng phương pháp lãi suất hiệu dụng (effective interest) trừ đi giá trị giảm giá. Lãi /lỗ được công nhận là lợi nhuận hay lỗ lã khi nợ vay và các khoản thu bị xóa công nhận (derecognized) hoặc giảm giá, qua quá trình khấu hao.

Xóa Công nhận

Một tài sản bị xóa công nhận khi quyền ghi trong hợp đồng, được nhận dòng tiền từ tài sản đã hết hiệu lực. Trong việc xóa công nhận một tài sản tài chính một cách đầy đủ, chênh lệch giữa số mang qua và tổng số thu dự kiến và bất kỳ lãi /lỗ tích lũy đã được công nhận trong thu nhập toàn bộ được được công nhận là lãi / lỗ

2.7 Giảm giá của tài sản tài chính

Công ty đánh giá lại vào mỗi cuối kỳ báo cáo liệu có hay không có bằng chứng rằng một tài sản nhất định đã giảm giá.

Tài sản được kết sổ ở giá khấu hao

Đối với các tài sản tài chính kết sổ ở giá khấu hao, trước tiên Công ty đánh giá liệu bằng chứng khách quan về sự giảm giá có tồn tại riêng biệt đối với các tài sản tài chính quan yếu riêng biệt, hay tồn tại theo nhóm đối với các tài sản tài chính mà không quan yếu khi xem xét riêng biệt. Nếu Công ty xác định rằng không có bằng chứng khách quan nào về giảm giá đối với một tài sản tài chính được xem xét riêng biệt, thì dù quan yếu hay không , nó bao gồm tài sản trong một nhóm tài sản tài chính với cùng một đặc trưng rủi ro bên có và đánh giá chung các tài sản này về khả năng giảm giá. Các tài sản được đánh giá riêng rẽ về giảm giá và có ghi nhận hay tiếp tục bị ghi nhận lỗ lã vì giảm giá sẽ không được tính vào một đánh giá giảm giá theo nhóm

(hết trang 6)

2. Tóm tắt các chế độ tài chính quan trọng (tiếp tục)

2,7 Giảm giá Tài sản Tài chính (tiếp tục)

Nếu có một bằng chứng khách quan rằng có sự giảm giá đối với một tài sản tài chính được kết sổ ở chi phí khấu hao, số lượng lỗ sẽ được tính toán là hiệu số của trị giá tài sản mang qua và trị giá hiện hành của dòng tiền dự liệu tương lai được chiết khấu theo lãi suất hiệu dụng nguyên gốc của tài sản tài chính. Trị số mang qua của tài sản này sẽ giảm xuống khi sử dụng một tài khoản dự trữ (allowance account) Lỗ lã do giảm giá được công nhận trong lãi lỗ

Khi tài sản không thu hồi được, số mang qua của tài sản tài chính giảm giá sẽ bị trực tiếp giảm xuống hoặc nếu một trị số được tính vào tài khoản dự trữ, trị số tính vào sẽ được xóa giảm vào giá trị mang qua của tài sản tài chính

Để xác định liệu có bằng chứng khách quan có phát sinh lỗ lã do giảm giá trên một tài sản tài chính, Công ty phải xem xét các yếu tố như nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc những khó khăn tài chính quan trọng của con nợ và việc kéo dài chi trả hoặc vỡ nợ

Nếu trong một kỳ báo cáo tiếp theo, trị số lỗ lã do giảm giá giảm đi, và việc giảm này có thể liên hệ khách quan tới một sự kiện xảy ra sau khi việc giảm giá được công nhận, lỗ lã giảm giá được công nhận trước đó phải được đảo ngược sao cho giá trị mang qua của tài sản không vượt quá giá trị khấu hao vào thời điểm đảo ngược. Trị số đảo ngược được ghi nhận vào lãi lỗ.

Tài sản tài chính kết sổ theo chi phí

Nều có bằng chứng khách quan (như một sự thay đổi bất lợi trong môi trường kinh doanh nơi người phát hành hoạt động, nguy cơ mất khả năng thanh toán, hoặc các khó khăn tài chính nghiêm trọng của người phát hành) rằng một lỗ lã giảm giá đối với tài sản tài chính kết sổ theo chi phí đã phát sinh, trị số lỗ lã sẽ được tính là chênh lệch giữa trị số tài sản mang qua và giá trị hiện hành của dòng tiền dữ liệu trong tương lai được chiết khấu ở giá thị trường hiện hành của doanh thu từ một tài sản tài chính tương tự.

2.8 Các điều khoản

Các điều khoản được công nhận khi Công ty có một nghĩa vụ (luật định hay phát triển) do hệ quả từ một sự kiện quá khứ, có khả năng cần có dòng ra các nguồn lực biểu trưng các lợi ích kinh tế để giải quyết các nghĩa vụ và mức độ của nghĩa vụ có thể tính toán được một cách đáng tin cậy.

Các khoản dự phòng sẽ được soát xét lại ở mỗi cuối kỳ báo cáo và hiệu chỉnh để phản ảnh được các lượng định tốt nhất của thời điểm. Nếu không còn khả năng cho một dòng ra các nguồn kinh tế cần thiết để thanh toán một nghĩa vụ, các khoản dự phòng phải hủy bỏ. Nếu ảnh hưởng của giá trị thời gian của tiền là quan trọng, các khoản dự phòng sẽ được chiết khấu bằng cách áp dụng lãi suất trước thuế hiện hành, nhằm phản ảnh tốt nhất các rủi ro trực tiếp liên quan đến công nợ. Khi áp dụng chiết khấu, việc tăng khoản dự phòng do quảng thời gian dài sẽ được công nhận là một chi phí vay nợ (finance cost)

(hết trang 7)

2. Tóm tắt các Chế độ Kế toán Quan trọng (tiếp tục)

2. 9 Công nợ Tài chính

Công nhận ban đầu và tính toán giá trị

Công nợ tài chính được công nhận khi, và chỉ khi, Công ty trở thành một bên tham gia điều khoản hợp đồng của một công cụ tài chính. Công ty sẽ xác định việc phân loại các công nợ tài chính của mình ở giai đoạn công nhận ban đầu

Các công nợ tài chính được công nhận ban đầu theo giá thị trưởng, có tăng thêm, trong trường hợp công nợ tài chính không đúng giá thị trường trên kết toán lãi /lỗ, chi phí giao dịch trực tiếp liên quan.

Các tính toán tiếp theo

Sau khi thực hiện công nhận ban đầu, các công nợ tài chính không phù hợp với giá thị trường qua kết toán lãi lỗ sẽ được tính toán theo chi phí khấu hao sử dụng phương pháp lãi suất hiệu dụng.

Lãi /lỗ được công nhận là lợi nhuận hay lỗ lã khi các khoản nợ được xóa công nhận (derecognized) qua quá trình khấu hao.

Xóa Công nhận

Một công nợ tài chính được xóa công nhận khi nghĩa vụ công nợ được trả xong, hủy bỏ hay hết hạn kỳ. Khi một công nợ tài chính được thay thế bằng một công nợ khác từ cùng một chủ nợ theo các điều khoản cơ bản khác biệt, hoặc điều khoản của công nợ cũ với những thay đổi quan trọng; những hoán chuyển và thay đổi đó được hạch toán như là sự xóa công nhận đối với công nợ gốc và công nhận một công nợ mới. Chênh lệch giữa hai trị giá mang qua sẽ được công nhận là lãi hay lỗ

2.10 Thuế

(i) Thuế thu nhập hiện hành

Các tài sản và công nợ thuế thu nhập hiện hành cho kỳ hiện tại và trước đó được tính toán theo con số dự tính có thể thu hồi từ hoặc trả cho ngành thuế. Luật và thuế suất áp dụng để tính toán là luật và thuế suất có hiệu lực hoặc chủ yếu đã hiệu lực tại thời điểm báo cáo.

Thuế thu nhập hiện hành được công nhận vào lãi /lỗ trừ phi, ở mức độ thuế liên quan đến các khoản công nhận ngoài phạm vi lãi / lỗ, hoặc ở thu nhập toàn bộ hoặc trực tiếp trong vốn chủ sở hữu. Hội đồng Quản trị định kỳ đánh giá vị thế trên tờ khai thuế đối với các tình huống các quy định thuế cần được diễn giải và thiết lập các khoản dự trữ tùy chỗ thích hợp

(hết trang 8)

2. Tóm tắt các chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2.10 Thuế (tiếp tục)

(ii) Thuế thu nhập hoãn lại :m

Thuế thu nhập hoãn lại áp dụng phương pháp công nợ đối với các chênh lệch tạm thời tại thời điểm báo cáo giữa cơ sở thuế của tài sản /công nợ và trị số mang qua dùng cho báo cáo.

Nợ thuế thu nhập hoãn lại được công nhận đối với tất cả chênh lệch tạm thời phải đóng thuế, ngoại trừ:

-Trường hợp nợ thuế thu nhập hoãn lại phát sinh từ công nhận ban đầu của một tài sản vô thể, tài sản hay công nợ trong một giao dịch không phải là một phối hợp kinh doanh, và tại thời điểm giao dịch, không ảnh hưởng gì đến lợi nhuận kế toán hoặc lãi lỗ chịu thuế; hoặc

– Trường hợp các chênh lệch tạm thời phải chịu thuế liên quan đến các khoản đầu tư trong công ty con, liên kết và quyền lợi trong các liên doanh mà khung thời gian cho việc đảo ngược các chênh lệch này có thể kiểm soát và có khả năng các chênh lệch tạm thời sẽ không đảo ngược trong thời gian trước mắt

Tài sản thuế thu nhập hoãn lại được công nhận đối với tất cả các khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ, mang qua của khoản giảm thuế đầu tư (tax credit) chưa sử dụng, các khoản khấu trừ do lỗ lã chưa sử dụng, ở chừng mực mà có khả năng phát sinh lợi nhuận phải đóng thuế mà các chênh lệch tạm thời được khấu trừ, khoản mang qua của giảm thuế đầu tư , khoản khấu trừ do lỗ lã có thể áp dụng; ngoại trừ

-Trường hợp tài sản thuế thu nhập hoãn lại liên quan đến chênh lệch tạm thời được khấu trừ phát sinh từ công nhận ban đầu của một tài sản hay công nợ trong một giao dịch không phải là một phối hợp kinh doanh, và tại thời điểm giao dịch, không ảnh hưởng gì đến lợi nhuận kế toán hoặc lãi lỗ chịu thuế; hoặc

– Trường hợp các chênh lệch tạm thời được khấu trừ liên quan đến các khoản đầu tư trong công ty con, liên kết và quyền lợi trong các liên doanh, tài sản thuế thu nhập hoãn lại được công nhận chỉ khi nào có khả năng các chênh lệch tạm thời sẽ đảo ngược trong thời gian trước mắt và phát sinh lợi nhuận chịu thuế mà các chênh lệch tạm thời có thể được áp dụng

Trị số mang qua của tài sản thuế thu nhập hoãn lại được đánh giá lại vào mỗi kỳ báo cáo và được giảm xuống tới mức không còn khả năng có đủ lợi nhuận chịu thuế khiến một phần hay toàn bộ tài sản thuế thu nhập hoãn lại có thể sử dụng. Các tài sản thuế thu nhập hoãn lại không được công nhận sẽ được đánh giá lại vào mỗi kỳ báo cáo và được công nhận chỉ khi nào có khả năng lợi nhuận chịu thuế tương lai cho phép tài sản thuế thu nhập hoãn lại được thu hồi.

(đầu trang 10)

2. Tóm tắt các chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2.10 Thuế (tiếp tục)

(ii) Thuế thu nhập hoãn lại (tiếp tục)

Các tài sản và công nợ thuế thu nhập hoãn lại được tính toán ở mức thuế dự tính áp dụng vào niên kỳ mà tài sản được thực hiện hoặc công nợ được thanh toán, căn cứ trên mức (và luật) thuế được ban hành hoặc chủ yếu được ban hành vào kỳ báo cáo

Thuế thu nhập hoãn lại liên quan đến những tài sản được công nhận bên ngoài lợi nhuận hoặc lỗ lã sẽ được công nhận ngoài lợi nhuận hoặc lỗ lã. Các tài sản thuế thu nhập hoãn lại được công nhận trong tương quan với các giao dịch phía sau nó hoặc trong các thu nhập toàn thể hoặc trực tiếp trong vốn chủ sở hữu .

Tài sản thuế thu nhập hoãn lại và công nợ thuế thu nhập hoãn lại được bù trừ, nếu có một quyền khả thi theo luật định cho phép bù đắp các tài sản thuế hiện hành đối với nợ thuế thu nhập và thuế thu nhập hoãn lại liên quan tới cùng một thực thể chịu thế và cùng một cơ quan tính thuế.

(iii) Thuế Dịch vụ và Hàng hóa

Doanh thu, chi phí, và các tài sản được công nhận trên giá trị ròng thuế hàng hóa và dịch vụ, ngoại trừ:

-Trường hợp thuế hàng hóa và dịch vụ phát sinh từ mua sắm tài sản hay dịch vụ không thể thu hồi từ cơ quan thuế, trong trường hợp đó thuế hàng hóa và dịch vụ được công nhận là bộ phận cấu thành của chi phí mua lại tài sản hay thành phần của khoản chi phí có thể áp dụng; và

– Các khoản phải thu, phải trả được báo cáo cùng với thuế mua hàng đã được bao gồm.

Giá trị ròng của thuế thuế hàng hóa và dịch vụ có thể thu hồi hay phải trả cho cơ quan thuế được bao gồm như là bộ phận cấu thành của khoản phải thu hay phải trả trong báo cáo vể tình hình tài chính.

2.11 Cho thuê

Việc xác định một thỏa thuận là hợp đồng cho thuê hay bao hàm một hợp đồng cho thuê sẽ đặt cơ sở trên thực chất của thỏa thuận vào ngày khởi điểm hiệu lực: hoặc việc thực hiện đầy đủ thỏa thuận có tùy thuộc vào việc sử dụng một hay nhiều tài sản cụ thể, hoặc hợp đồng bao hàm quyền sử dụng tài sản , ngay cả khi quyền này không được nêu rõ tường minh trong một thỏa thuận. Đối với những thỏa thuận ký kết trước 01 tháng 01 năm 2005, ngày bắt đầu hiệu lực được xem là ngày 01 tháng 01 năm 2005 theo đúng yêu cầu vể chuyển đổi INT FRS 1004

Các chi trả tiền thuê vận hành được công nhận như là chi phí trong lãi lỗ trên cơ sở ngang-bằng với thời hạn thuê mướn. Lợi ích tổng hợp của các khoản khuyến khích của bên chủ cho thuê được công nhận như một sự giảm bớt chi phí thuê mướn trong thời hạn cho thuê trên cơ sở ngang-bằng.

(hết trang 10)
2. Tóm tắt những chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2.12 Công nhận Doanh thu:

Doanh thu được công nhận khi mà các lợi ích kinh tế sẽ chảy về Công ty và có thể đo lường được một cách tin cậy, bất kể thời điểm thanh toán. Doanh thu được tính qua xem xét giá thực tế (thị trường) thu được hay phải thu, có xét đến các phương thức thanh toán được xác định trong hợp đồng, không tính vào các khoản chiết khấu, bớt giá, thuế kinh doanh và phí các loại. Công ty đánh giá các thỏa thuận doanh thu để xác định xem doanh thu đóng vai chủ ủy thác (principal) hay là đại lý cung ứng (agent) . Công ty đã xác định là mình đang hoạt động ở vai chủ thể trong toàn bộ các kết cấu doanh thu của mình.

Các tiêu chí công nhận doanh thu cụ thể sau đây phải được đáp ứng trước khi doanh thu được công nhận:

(i) Cung ứng dịch vụ:

Doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ cho các khách hàng sỉ của công ty mẹ, DFS Venture Singapore, được công nhận khi dịch vụ được cung cấp và ra hóa đơn.

Thu nhập phí dịch vụ được tính cho công ty con được công nhận khi dịch vụ được cung cấp. Mức phí công nhận được tăng 5% cho các chi phí liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ đó.

(ii) Thu nhập lãi suất

Thu nhập lsaut được ghi nhận áp dụng phương pháp lãi suất hiệu dụng

2.13 Tiền mặt và các tài sản tương đương tiền mặt

Tiền mặt và các tài sản tương đương tiền mặt là tiền mặt tại ngân hàng và tiền tại quỹ.

2.14 Phúc lợi của nhân viên

Công ty đóng góp vào Chương trình Quỹ Central Provident Fund tại Singapore, một chương trình đóng góp quỹ hưu trí. Những đóng góp này được công nhận như các chi phí trong kỳ mà dịch vụ liên quan được thực hiện.

2.15 Các bên liên quan

Bên liên quan được định nghĩa như sau:

(a) Một cá nhân hoặc thành viên thân thuộc của người đó được gọi là liên hệ với Công ty nếu người đó:

(i) có quyền kiểm soát hoặc cùng kiểm soát đối với Công ty

(iii) có uy thế ảnh hưởng quan trọng đối với Công ty

(iv) là thành viên của nhân sự chủ chốt của ban lãnh đạo của Công ty hoặc một công ty mẹ của Công ty.

(hết trang 11)
2. Tóm tắt những chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2.15 Các bên liên quan (tiếp tục)

(b) Một thực thể được coi là có liên hệ với Công ty khi một trong các điều kiện sau đây được thỏa:

(iv) (i) thực thể và Công ty là thành viên của cùng nhóm tập đoàn (nghĩa là mỗi công ty mẹ, công ty con, công ty thành viên đều liên hệ với các công ty khác)

(v) (ii) Một thực thể là một công ty liên kết (associate) hay liên doanh với cùng một đối tác thứ ba.

(vi) (iii) Cả hai thực thể cùng liên doanh với một bên thứ ba

(vii) Thực thể là một kế hoạch/ dự án phúc lợi sau-tuyển dụng cho kế hoạch phúc lợi của nhân viên của Công ty hay của một thực thể liên hệ với Công ty. Nếu Công ty là chủ thể của chính dự án, các chủ doanh nghiệp bảo trợ cũng liên hệ với Công ty.

(viii) Chủ thể được kiểm soát hoặc cùng được kiểm soát bởi một người được xác định tại mục (a)

(ix) Một người được xác định tại (a) (i), có uy thế ảnh hưởng đối với thực thể hoặc là một thành viên là nhân sự chủ chốt của ban lãnh đạo của thực thể (hoặc một công ty mẹ của thực thể)

3. Các cân nhắc và ước lượng kế toán quan trọng:

Việc lập báo cáo tài chính của Công ty đòi hỏi ban lãnh đạo đưa ra những cân nhắc, ước lượng và các giả định có thể tác động ảnh hưởng đến con số doanh thu, các chi phí, tài sản và công nợ báo cáo, và việc công bố các công nợ đột xuất ở mỗi cuối kỳ báo cáo. Tuy nhiên, sự bấp bênh về những ước lượng cũng như giả định có thể dẫn đến một kết quả cần đến sự điều chỉnh quan trọng trị số mang qua của tài sản hay công nợ có thể bị tác động trong những kỳ báo cáo tương lai.

(hêt trang 12)

3.Các Cân nhắc và Ước lượng Kế toán Quan trọng (tiếp tục)

(a) Các cân nhắc hệ trọng khi áp dụng các chế độ kế toán:

Trong quá trình áp dụng các chế độ kế toán của Công ty, ban lãnh đạo công ty đã đưa ra các cân nhắc, không kể các đánh giá ước tính, đã có những hiệu quả đáng kể đối với các khoản được công nhận trong các báo cáo tài chính.

Giảm giá tài sản tài chính:

Công ty áp dụng hướng dẫn FRS 39 để xác định khi nào một tài sản tài chính không thể còn được coi là bị giảm giá tạm thời. Việc xác định này đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng, Công ty đánh giá, qua những yếu tố khác nhau, trong đó có thời hạn và mức độ mà giá trị giảm giá của tài sản tài chính xuống thấp hơn giá chi phí của nó; sự lành mạnh tài chính trong cách nhìn kinh doanh tầm gần đối với tài sản tài chính, bao gồm hiệu quả trong ngành công nghiệp và lĩnh vực kinh doanh, các thay đổi của dòng tiền hoạt động và tài trợ

(b) Nguồn chủ yếu tạo ra tính bấp bên của các ước tính

Các giả định liên quan đến tương lai và các nguồn chính yếu của tính bấp bênh trong của các uớc tính vào mỗi cuối kỳ báo cáo, là mối rủi ro lớn có thể kéo theo sự điều chỉnh đáng kể các khoản mang sang của công nợ hay tài sản cho năm tài chính sắp đến được thảo luận ở dưới đây.

thuế thu nhập

Có nhiều sự cân nhắc khi xác định các khoản dự phòng của Công ty cho thuế thu nhập. Có một số những giao dịch và tính toán mà việc xác định thuế chính xác là không thể chắc chắn theo cách vận hành bình thường của việc kinh doanh. Công ty công nhận công nợ cho các khoản thuế dự trù căn cứ trên các ước tính liệu có thêm khoản thế nào khác đến hạn. Khi mà con số kết quả tính thuế sau cùng khác với trị số được thừa nhận ban đầu, các chênh lệch này sẽ tác động lên các khoản trữ thuế thu nhập đã đưa ra trong kỳ báo cáo. Giá trị mang qua của thuế phải trả của Công ty vào ngày 31 tháng Mười hai là $102.005 (2010, thuế phải trả $251.816)

4. Lợi nhuận Hoạt động

Lợi nhuận hoạt động kinh doanh báo cáo sau khi đã tính:





Chi phí tư vấn

Chi phí phúc lợi nhân viên

Chi phí thuê nhà xưởng







(cuối trang 13)

13. Công cụ Tài chính và việc Quản lý Vốn

Công ty đứng trước nhiều rủi ro tài chính, như rủi ro vể ngoại tệ. rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản. Ban lãnh đạo của Công ty giám sát việc quản lý các rủi ro này và có trách nhiệm báo cáo cho Hội đồng quản trị, là người có trách nhiệm bao quát vể các chính sách quản trị rủi ro của Công ty.

Các chính sách quản lý rủi ro ngoại tệ, rủi ro tác dụng và rủi ro thanh khoản được tóm tắt dưới đây:

Rủi ro về ngoại tệ

Công ty đứng có nhiều rủi ro về ngoại tệ trong bán hàng, mua sắm và vay mượn được tính toán bằng một ngoại tệ khác với đồng tiền tác nghiệp của các thực thể doanh nghiệp khác nhau trong Công ty. Tuy vậy ban lãnh đạo có quan điểm rằng các rủi ro này không có tác động gì quan trọng đến tình hình tài chính của Công ty và kết quả hoạt động kinh doanh sẽ được diễn giải ở bên dưới.

Các mua sắm hàng vật tư và bán hàng chủ yếu được thực hiện chỉ bởi một số tthực thể trong Công ty. Các thực thể này sẽ lại bán cho các thực thể khác của Công ty bằng đồng tiền tác nghiệp của các thực thể mua hàng đó. Rủi ro tiền tệ vì vậy được bù trừ, qua đó tạo ra một hàng rào bảo vệ rủi ro cho Công ty. Các rủi ro còn lại từ các khoản thu và khoản phải trả trong kinh doanh thuộc về một hồ sơ tiền tệ đa dạng. Vì lý do này, ban lãnh đạo có quan điểm rằng rủi ro riêng rẻ của từng thực thể có mức độ giới hạn.

Phân tích về dộ nhạy cảm của rủi ro ngoại tệ

Bảng sau đây cho thấy độ nhạy cảm của thu nhập, thuế ròng của Công ty đối với một thay đổi trong tỉ giá hối đoái từ của USD và VND (?) đối với các tiền tệ tác nghiệp tương ứng của các thực thể này, giả thiết rằng các tham số khác là không thay đổi.


Thu nhập trước thuế





– củng cố hơn 3% (2010:3°4)

– yếu đi 3% (2010 :3%)

(136,945) 136,945





– củng cố hơn 3% (2010:3%)

– yếu đi 3% (2010_3%)






(cuoi trang 14)

13. Chính sách và qui trình quản lý rủi ro tài chính

Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro thua lỗ tài chính của Công ty nếu một khách hàng hay đối tác trong một công cụ tài chính không thực hiện đúng các nghĩa vụ hợp đồng, và rủi ro thường phát sinh từ các khoản phải thu trong kinh doanh và tiền gửi ngân hàng.

Rủi ro tín dụng từ ngân hàng và các thiết chế tài chính do bộ phận chức năng tài chính của Công ty đảm đương. Theo chính sách của Công ty, đầu tư từ các quỹ thặng dư chỉ được thực hiện khi được sự chấp thuận của các bên đối tác và chúng nằm trong giới hạn tín dụng đã quy định cho từng đối tác. Các giới hạn tín dụng của các đối tác được bộ phận tài chính thường xuyên đánh giá lại, và cập nhật suốt trong trong năm tùy vào sự chuần thuận của Trưởng Bộ phận Tài chính (CFO). Các giới hạn được lập nên để giảm bớt sự tập trung rủi ro và nhờ đó giảm thiểu các thua lỗ tài chính từ các đối tác có nguy cơ thất bại.

Vào ngày báo cáo, tất cả các số thu kinh doanh của Công ty đã đến hạn từ một khách hàng lớn ở Indonesia. Chủ trương của Công ty là làm ăn kinh doanh với các đối tác tin cậy và Công ty đã đánh giá về mức độ tin cậy (uy tín thanh toán) của khách hàng này. Do đó, căn cứ trên sự đánh giá của ban lãnh đạo, không có tài sản tài chính nào phải bị giảm giá tại thời điểm báo cáo này.

Khả năng gặp rủi ro cao nhất của Công ty về tín dụng, trong mức độ mà các bên đối tác không thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của họ trước ngày 31 tháng Mười hai 2011 đối với từng lớp loại tài sản là con số mang qua của những tài sản này như được chỉ ra trong báo cáo về tình hình tài chính.

Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi mà Công ty không còn đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính khi chúng đến hạn.

Công ty quản lý các rủi ro thanh khoản bằng cách thường xuyên theo dõi dự báo dòng tiền và thực tế lưu chuyển tiền mặt, duy trì đủ lượng tiền mặt và các phương tiện tương đương tiền mặt và nắm chắc các tiện ích ngân hàng.

Chi tiết về khoản giá trị khả thu tới hạn của một công ty được công bố trong Thuyết minh 7

14. Cho phép công bố báo cáo tài chính

Các báo cáo tài chính cho năm kết toán 31 tháng Mười hai 2011 của Công ty đã được cho phép công bố theo như nghị quyết ngày 12 tháng Sáu 2012 của Hội đồng Quản trị

(cuoi trang 15)

giay khai sinh

Village/Commune: Tan Qui Dong
Arrondissement: TX, Sadec

Province/Ville: Dong Thap

République Socialiste du Vietnam

Indépendance – Liberté – Bonheur

Formulaire: TP/HT/199-A.2a
No: 42
Livret: 2/2003



Nom et prénom: NGUYÊN THI PHUONGG Sexe: Féminine
Date de naissance: 17/03/1974 (en mots: Mille sept cent soixante quatorze)

Lieu de naissance: Sadec

Groupe Ethnique: Kinh Nationalité: Vietnam

Domicile natal: Sadec

Déclarations sur les parents



Nom et prénom



Date de naissance



Groupe ethnique






Domicile natal


Chau Thanh

Demeure permanente/ provisoire


146 Tan Hiep, Tan Quy Dong, Sadec DT

Nom et prénom, date de naissance, No de la carte d’identité, pièce valide ou équivalente du/de la déclarant(e): NGUYEN THI PHUONG, né 1974, Carte d’identité 340.761.512

Relation avec la personne déclarée: self-déclarantion




Officier d’État civil


TQĐ, Jour 11 Mois 4 Année 2003
Pour Le Comité Populaire du Village
Le Président

Copié de l’origine du Registre des Naissances
TQĐ, Jour 11 Mois 4 Année 2003

Pour: Le Comité Populaire du Village
Le Président
(signé et scellé)


thư của rsf, tháng 12



Chers amis,
Je vous écris dans l’urgence. L’année écoulée s’annonce hélas tragique, à plusieurs titres. D’un côté, le bilan annuel établi par nos chercheurs est catastrophique : il fait état d’une hausse de 33% du nombre de journalistes tués en 2012 par rapport à 2011.

Jamais ce bilan n’a été aussi macabre depuis 1995. Nos équipes vont donc devoir redoubler d’efforts: renforcer nos programmes de défense et de protection des journalistes persécutés et emprisonnés, intensifier notre présence sur le terrain et nos actions auprès des autorités.

Mais face à ces besoins en hausse, les dons sont en baisse !

Notre collecte de fin d’année est durement frappée par la crise, et ces chiffres là sont, eux aussi, très préoccupants. RSF est plus que jamais face à une impasse budgétaire: rassembler des fonds est de plus en plus difficile, et pour cette raison, chaque don compte : nous avons besoin de vous à nos côtés !

N’attendez pas pour agir, si vous avez la possibilité de nous aider, je vous invite à le faire sur notre formulaire de dons en ligne 100% sécurisé. En cas de difficulté, n’hésitez pas à nous appeler au 01 44 83 84 64.

Quel que soit le montant de votre don, il fera la différence et vous donnera droit à une déduction fiscale de 66% de son montant sur vos impôts.

Cette année plus que jamais, votre don est vital pour tous ceux qui, à travers le monde, se battent pour la liberté de l’information.

Je vous souhaite de très joyeuses fêtes de fin d’année et je vous remercie d’avance de votre aide, votre compréhension et votre générosité.

Très cordialement,
Perrine Daubas
Responsable de la collecte
Reporters sans Frontières

47 rue Vivienne
75002 Paris – France
Tel. +33 1 44 83 84 84
Fax. +33 1 45 23 11 51

PS: N’oubliez pas, c’est grâce à vos dons que nous restons indépendants. Nous comptons sur vous !

Vous recevez ce message car vous êtes abonné à notre lettre d’information sur l’adresse suivante :
Ne plus recevoir de messages de notre part, rendez-vous sur cette page.

Các bạn thân mến,
Tôi phải khẩn hoản viết cho các bạn đây. Xin được thông báo rằng tình hình năm qua, về nhiểu phương diện, hởi ôi, rất bi đát. Phần thì, ngân quỹ hàng năm của cộng tác viên điều tra của chúng tôi rất tang thương:

abusing laws to jail a blogger in vietnam

Lạm dụng luật để bỏ tù blogger

Người dịch: Đan Thanh |

Ngày 22-11-2012

Chú thích của người dịch: Đây là một trong tập hợp các bài viết của Liên minh Báo chí Đông Nam Á (Southeast Asian Press Alliance, SEAPA) nhân kỷ niệm ngày Quốc tế Chấm dứt tình trạng tội ác không bị trừng phạt (Global Day to End Impunity), 23-11, năm nay.

SEAPA kỷ niệm ngày này bằng cách tập hợp bài viết/ báo cáo của công dân các nước Đông Nam Á về một trường hợp điển hình xâm phạm tự do ngôn luận ở mỗi nước, như là kết quả của tình trạng tội ác và sai phạm của chính quyền không bị trừng phạt. Trường hợp ở Việt Nam được chọn để báo cáo là vụ án Điếu Cày.




The morning of 24 September must have been an unforgettable for Binh Nhi, a 29-year-old who had just secretly traveled thousands of kilometres by train from Hanoi to Ho Chi Minh City. Binh Nhi was caught by the police and was heavily beaten in custody. The wrong he committed was that he wanted to go to the People’s Court of Ho Chi Minh City, where the trial of a very famous blogger was taking place that morning.

Hundreds of policemen, both uniformed and plain clothed, were ubiquitous in the area to stop people from approaching the court, even though it was officially a ‘public’ trial.

Dieu Cay is the pen name of the blogger on trial. While he was in court that morning, his ex-wife and son were kept outside the court and prevented from attending the hearing, despite their desperate and angry objections. Police even ripped off the son’s “Free Dieu Cay” t-shirt. A young policeman taunted them shouting, “[You want] Freedom? Your freedom is my penis!”

After a trial that lasted for only three hours, Dieu Cay was sentenced 12 years to prison, while Ta Phong Tan, a woman blogger, received 10 years, and Phan Thanh Hai, aka AnhbaSG, four years. Analysts said AnhbaSG was given the lighter sentence for having admitted before the court that he was wrong, he felt remorse and would cut off all relationships with “reactionary elements.” This verdict for Anhba SG was something his family and friends all knew ahead of the trial.

All of the three bloggers were convicted under Article 88 of the Penal Code of Vietnam, penalizing the vague crime of “conducting anti-state propaganda”.

Blogger’s charisma

“Dieu Cay”, which means “peasant pipe”, is a very popular Vietnamese nickname that any Vietnamese blogger can use. And it’s the nickname of chosen by Nguyen Van Hai, an easy-going, amiable, warm-hearted and charismatic person, according to his friends.

Born on 23 September 1952 in the northern city of Hai Phong, Dieu Cay spent his youth in the Vietnam People’s Army in the southwestern border battlefield in the late 1970s. After the war, Dieu Cay chose to start his own business—running a coffeehouse, selling cameras and other photo equipment, and renting out apartments—instead of joining the bureaucracy, which was the common path of many.

When Yahoo! 360° came to Vietnam in 2005 after its official launch in the US, it was the first time for the country’s 22 million internet subscribers, mostly youths, to experience a new form of reading, writing, and expressing their ideas and opinions. While politics remained a sensitive area to most Vietnamese bloggers, the country began to witness since 2007 a growing concern about political issues, especially with the escalation of tensions on conflicting territorial claims between Vietnam and China.

Dieu Cay, in his 50s, proved to be internet-savvy, adapting very quickly to the new media. In mid-2007, he developed his own Yahoo! 360° blog, to which he posted writings and photos of the life of people in contemporary Vietnam. For example, he told the story of how he got into trouble when the local People’s Committee alleged that his restaurant was using the foreign name, “Mitau”, which simply meant “you and me” in a central Vietnam dialect. His writings, with a sense of humour and bitter satire, reflected different aspects of a crippling rule of law, winning him a high reputation as the first-ever famous political blogger in Vietnam.

In 2007, Dieu Cay and a few friends established the Free Journalists Club (FJC) without official permission. (While the Vietnam Constitution recognises freedom of association, it is not realized because of many obstacles for groups to organize themselves.) He also developed its blog, which, similar to his personal one, became a potent weapon in the struggle for justice and freedom of Vietnamese citizens. With a laptop and a camera, he travelled to many places in Vietnam to write stories on disadvantaged communities, including dispossessed farmers and sweatshop workers. Dieu Cay, for instance, exposed the beginnings of corruption in the construction of Can Tho bridge, which collapsed in September 2007 and is of the most serious disasters in Vietnam’s construction history.

The web of persecution

One example of government persecution against Dieu Cay occurred around November 2006. He was involved in a dispute with a neighbour, and an official of the local cell of the Communist Party, who appropriated part of one of Dieu Cay’s apartments. Dieu Cay posted photos of his apartment to his blog and distributed copies of the case among neighbours and friends. This attracted attention of the local people who were all displeased with the communist cadre. He also reported the case to local police, who, instead of returning the property to him, fined Dieu Cay instead for “inciting social disorder”. He objected and took a lawsuit to a local administrative court, which he lost in June 2007. In the process however, he blogged photos, voice recordings, and court proceedings, describing a spurious, laughter-provoking “rule of law” and, earning him even bigger attention from the public.

On December 2007, bloggers protested for the first time in Hanoi and Ho Chi Minh City, opposing China’s plan to set up a “Sansha City” to administer the disputed Spratly and Paracel islands in South China Sea. Dieu Cay, who was already prominent by then, managed to attract the participation of dozens of students.He was brutally detained by the police later on the way home.

Although he was released at the end of the day, Dieu Cay would from that time be placed under tight police surveillance. He was often harassed, his business sabotaged by strangers in different ways. More seriously, Dieu Cay was regularly summoned to the police station for interrogation. His friends say many interrogations lasted from 8am to 10pm, with a lot of queries about his activities and FJC’s. Because of this, Dieu Cay was almost confined to his home. When the pressure got worse, Dieu Cay decided to leave.

Subsequently there was a campaign of the police chasing after Dieu Cay. On April 19, 2008, he was “urgently arrested”, as police put it, in an Internet café in the southern city of Da Lat. No one witnessed the arrest, so there is no information about the charges contained in the warrant. International group Reporters Without Borders said it was no coincidence that Dieu Cay’s arrest came just a few days before the Ho Chi Minh City leg of the Olympic torch relay for which the government insisted on ‘absolute security’ and sanctions against any ‘troublemakers.’

Dieu Cay was handcuffed and secretly taken back to Ho Chi Minh City, placed in custody without access to any lawyer or legal support. The lawyer that Dieu Cay’s family hired later, Le Cong Dinh, complained that he was not permitted to meet Dieu Cay during police investigation and not even notified of the trial date.

The lawyer said the house search was only conducted a few days after his arrest. All of Dieu Cay’s friends and family thought the search was just aimed at finding evidence of his “anti-state activities”. Not finding anything, authorities then accused him of tax fraud. Even then, they failed to follow due process.

Since the police only began to seize papers as few days after the arrest, it was improbable that charges by the People’s Procuracy for tax fraud to be “based on some documents”, as it had said before the house search. Prior to the arrest, Dieu Cay was not served any notice from the local tax department related to his alleged tax evasion. All of the questions he was asked during the hours of investigations focused on his blogging activities, especially on the FJC.

Le Cong Dinh also found out that Dieu Cay, in fact, did not commit tax evasion. Rather, it was the police who requested the local tax department not to receive any overdue tax from both the Dieu Cay and his tenant without police permission. The request was made as early 25 February 2008. In other words, the tax fraud case was trap set up for Dieu Cay months before his arrest.

Dinh himself would be arrested just one year after and charged with attempting to overthrow the state.

Another lawyer, Le Tran Luat, who offered to free legal assistance to Dieu Cay, experienced police harassment and was also summoned for interrogation. The police questioned Le Tran Luat on his relationship with Dieu Cay, the motive behind the offer to defend free-of-charge, and his knowledge about the “outlawed FCJ.”

On 10 September 2008, Dieu Cay was sentenced 30 months in prison by the Ho Chi Minh City People’s Court. Ironically, on 18 October 2010, just one day before Dieu Cay completed his prison term, blogger AnhbaSG, also an FJC member, was arrested.

Dieu Cay would remain in detention under the new charge of “spreading propaganda against the state.” His family has also been subject to state harassment.

A warning to bloggers

In the months before the September 2012 trial of Dieu Cay, an online petition drew thousands of people to sign an open letter to President Truong Tan Sang, demanding for Dieu Cay’s freedom. Many bloggers produced black T-shirts with the slogan “Free Dieu Cay, freedom for the patriot”. The atmosphere was so tense that the police-dominated People’s Procuracy had tried to keep the trial date secret.

200The 24 September trial won unprecedented attention in Vietnam’s blogosphere and social networks (mostly Facebook). Dozens of bloggers from other places traveled to Ho Chi Minh City and went to the People’s Court, trying to attend the supposedly public trial despite the police blockade. The police jammed cell phone signals; many people were intimidated, harassed, and beaten, their mobile phones and cameras seized. The state-owned media launched a campaign attacking Dieu Cay ad hominem, as well as other “anti-state” bloggers in general.

Online commentators said that by giving Dieu Cay such a harsh sentence, the authorities wanted to send a message that they will be very tough on those critical of the state.

The heavy punishment, however, did not create the fear that the authorities expected among the citizens. Instead, anger spread virally over the Vietnamese-language internet. Even some members of blogging communities usually supportive of the state had to admit that the trial was unfair to bloggers who just voiced their opinion in a peaceful way, using only a web-connected laptop.

Many people contrasted Dieu Cay’s penalties with a case of police abuse of power, in which a police causing the death of one citizen not wearing a motorbike helmet was sentenced to only four years in prison. Many lamented that in Vietnam, “justice is just a travesty,” “blogging is now a dangerous job,” “if you hate someone, you’d better kill him rather than write bad things about him, because raising opinions here is more severely punished than murder.”

(Photos: DanlamBao; Youtube screen grab from Trandaiquangvideo)


Buổi sáng ngày 24-9 hẳn phải là không thể nào quên đối với Binh Nhì, một người 29 tuổi, người đã lẳng lặng vượt hàng nghìn kilomet từ Hà Nội vào TP.HCM bằng tàu hỏa. Binh Nhì bị công an bắt và bị đánh đập tàn tệ tại nơi giam giữ. Cái tội của anh là muốn  đến Tòa án Nhân dân TP.HCM, nơi phiên tòa xét xử một blogger rất nổi tiếng sẽ diễn ra buổi sáng hôm đó.

Hàng trăm công an, vừa cảnh phục vừa thường phục, nhan nhản khắp nơi trong khu vực để ngăn mọi người đến gần tòa án, cho dù trên danh nghĩa đây là phiên “công khai”.

Điếu Cày là bút danh của blogger bị xử. Trong khi ông đứng trước tòa buổi sáng hôm ấy, vợ cũ và con trai của ông bị giữ bên ngoài và bị ngăn trở, không cho tham dự phiên điều trần, bất chấp sự phản đối tuyệt vọng và phẫn nộ của họ. Công an thậm chí còn lột bỏ chiếc áo phông “Trả tự do cho Điếu Cày” của cậu con trai. Một viên công an trẻ tuổi hét vào mặt họ, chế giễu: “(Mày thích) Tự do à? Tự do cái con c.” (dịch sát nghĩa từ tiếng Anh: “Tự do của mày là con c. của tao đây” – ND)

Sau phiên xử chỉ kéo dài có ba tiếng, Điếu Cày bị kết án 12 năm tù, trong khi Tạ Phong Tần, một blogger nữ, lĩnh án 10 năm, và Phan Thanh Hải, tức AnhbaSG, 4 năm. Các nhà phân tích cho rằng AnhbaSG bị án nhẹ hơn là do đã thừa nhận trước tòa là anh sai, anh ăn năn hối cải và sẽ chấm dứt mọi quan hệ với “các thành phần phản động”. Bản án cho AnhbaSG là cái mà tất cả gia đình và bạn bè anh đều đã biết từ trước phiên xét xử.

Cả ba blogger đều bị buộc tội theo Điều 88 của Bộ luật Hình sự Việt Nam, trừng phạt một tội mơ hồ là “tuyên truyền chống nhà nước”.

Sự hấp dẫn của một blogger

“Điếu Cày”, có nghĩa là “ống điếu của nông dân”, là một nickname rất bình thường ở Việt Nam mà bất cứ một blogger Việt Nam nào cũng có thể sử dụng. Và đó là cái nick được chọn bởi ông Nguyễn Văn Hải, một người cởi mở, đáng mến, nhiệt tình và thu hút, theo lời bạn bè ông đánh giá.

Sinh ngày 23-9-1952 tại thành phố Hải Phòng ở miền Bắc, Điếu Cày sống tuổi thanh xuân trong hàng ngũ của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở mặt trận biên giới Tây Nam vào cuối những năm 1970. Sau chiến tranh, Điếu Cày bắt đầu làm kinh doanh riêng – mở quán café, bán máy ảnh và các thiết bị ảnh, cho thuê căn hộ – thay vì gia nhập bộ máy quan liêu, vốn là con đường chung của nhiều người.

Khi Yahoo! 360° xuất hiện ở Việt Nam vào năm 2005 sau khi được công bố ở Mỹ, lần đầu tiên 22 triệu người dùng Internet của Việt Nam, phần lớn là thanh niên, được trải nghiệm một hình thức mới để đọc, viết, và thể hiện quan điểm, ý kiến. Mặc dù chính trị vẫn là một lĩnh vực nhạy cảm với phần lớn blogger Việt Nam, nhưng kể từ năm 2007, đất nước bắt đầu chứng kiến mối quan tâm ngày càng lớn đến các vấn đề chính trị, đặc biệt với sự leo thang căng thẳng trong các yêu sách chủ quyền mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Điếu Cày, khi ấy ngoài 50 tuổi, tỏ ra là một người thành thạo Internet, thích ứng rất nhanh với phương tiện truyền thông mới này. Giữa năm 2007, ông mở trang Yahoo! 360° blog riêng, post lên đó các bài viết và bức ảnh về cuộc sống của người dân ở nước Việt Nam đương đại. Ví dụ, ông kể chuyện ông đã gặp rắc rối như thế nào khi Ủy ban Nhân dân địa phương buộc tội nhà hàng của ông dùng tên tiếng nước ngoài, “Mitau”, mà tên đó chỉ có nghĩa là “mi và tau” trong thổ ngữ của người miền Trung. Các bài viết của ông – với một chút hài hước và chế giễu, phản ánh những khía cạnh khác nhau của một nền pháp quyền què quặt – đã khiến ông được biết đến với tư cách blogger chính trị nổi tiếng đầu tiên ở Việt Nam.

Năm 2007, Điếu Cày và một vài người bạn thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do mà không được cấp phép. (Mặc dù Hiến pháp Việt Nam công nhận quyền tự do lập hội, nhưng quyền ấy không được thực thi bởi lẽ có rất nhiều trở ngại khiến cho các nhóm không thể tự tổ chức được). Ông cũng mở blog của câu lạc bộ, và cũng tương tự như blog cá nhân của ông, blog (của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do) trở thành một vũ khí hùng mạnh trong cuộc chiến đấu vì công lý và tự do của công dân Việt Nam. Với một laptop, một chiếc máy ảnh, ông đi đến nhiều nơi ở Việt Nam để viết nên những câu chuyện, về các cộng đồng thiệt thòi, bao gồm cả những nông dân mất đất và những công nhân bị bóc lột. Chẳng hạn, Điếu Cày đã vạch trần tham nhũng trong dự án xây cầu Cần Thơ – cây cầu bị sập vào tháng 9-2007 và là một trong những thảm họa nghiêm trọng nhất trong lịch sử ngành xây dựng Việt Nam.

Mạng lưới khủng bố

Một ví dụ về sự ngược đãi mà chính quyền nhằm vào Điếu Cày là chuyện xảy ra vào khoảng tháng 11-2006. Ông dính líu vào một vụ cãi cọ với hàng xóm, vốn là một cán bộ trong chi bộ đảng ở địa phương, người đã chiếm một căn hộ của ông. Điếu Cày post ảnh căn hộ bị chiếm lên blog cá nhân và phân phát tờ photo vụ án cho láng giềng, bè bạn. Điều này thu hút sự chú ý của dân chúng địa phương, cũng đều là những người không hài lòng với ông cán bộ cộng sản kia. Điếu Cày còn báo cáo vụ việc với công an địa phương – song thay vì trả lại tài sản cho ông, công an lại phạt Điếu Cày tội “kích động gây rối”. Ông phản đối và đệ đơn kiện lên một tòa hành chính cấp địa phương, và thua kiện vào tháng 6-2007. Tuy nhiên, trong quá trình theo kiện, ông đã đăng tải trên blog ảnh, các đoạn ghi âm, ghi chép về thủ tục tố tụng xét xử, mô tả một “nhà nước pháp quyền” giả dối, lố bịch, và khiến cho ông càng được công luận chú ý hơn.

Tháng 12-2007, các blogger biểu tình lần đầu tiên ở Hà Nội và TP.HCM, phản đối kế hoạch của Trung Quốc xây dựng “thành phố Tam Sa” nhằm quản lý quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trên Biển Đông. Điếu Cày – khi đó đã nổi tiếng rồi – thu hút được sự tham gia của hàng chục sinh viên. Sau đấy ông đã bị công an bắt một cách tàn nhẫn trên đường về nhà.

Mặc dù vào cuối ngày, Điếu Cày cũng được thả, nhưng kể từ đó, ông bị công an theo dõi chặt chẽ. Ông thường xuyên bị quấy nhiễu, công việc kinh doanh bị những người lạ phá hoại theo nhiều cách khác nhau. Nghiêm trọng nhất, Điếu Cày thường xuyên bị triệu lên đồn công an để trả lời thẩm vấn. Bạn bè ông kể lại rằng nhiều cuộc thẩm vấn kéo dài từ 8h sáng đến 10h đêm, với rất nhiều câu hỏi về các hoạt động của ông và của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do. Vì chuyện đó, Điếu Cày gần như bị giam trong nhà. Khi áp lực trở nên tồi tệ hơn, ông quyết định bỏ đi.

Ngay sau đó đã có cả một chiến dịch của công an nhằm truy bắt Điếu Cày. Vào ngày 19-4-2008, ông bị “bắt khẩn cấp” theo cách nói của công an, tại một quán café Internet ở Đà Lạt, thành phố miền Nam Việt Nam. Không có ai chứng kiến vụ bắt bớ, do đó không có thông tin gì về lý do buộc tội nêu trong lệnh bắt. Tổ chức quốc tế Phóng viên Không Biên giới nói rằng không phải là tình cờ khi mà vụ bắt giữ Điếu Cày diễn ra chỉ vài ngày sau lễ rước đuốc Olympic Bắc Kinh qua TP.HCM, mà vì buổi lễ đó, chính quyền đã khẳng định sẽ đảm bảo “an ninh tuyệt đối” và trừng phạt bất cứ “kẻ gây rối” nào.

Điếu Cày bị còng tay và bị bí mật đưa về TP.HCM, cho vào trại giam mà không được tiếp xúc với luật sư hoặc có sự trợ giúp pháp lý nào. Vị luật sư mà gia đình ông thuê sau đó, Lê Công Định, phàn nàn rằng ông không được phép gặp Điếu Cày trong suốt quá trình công an thẩm vấn, và thậm chí còn chẳng được thông báo về ngày giờ xét xử.

Luật sư Định cho biết, vài ngày sau khi Điếu Cày bị bắt, cuộc khám nhà mới diễn ra. Tất cả bạn bè và gia đình Điếu Cày cho rằng hành động khám xét đó chỉ nhằm mục đích tìm kiếm bằng chứng về các “hoạt động chống phá nhà nước” của ông. Không tìm thấy gì, chính quyền bèn buộc ông vào tội trốn thuế. Ngay cả khi đó thì họ cũng không làm đúng thủ tục tố tụng.

Do công an chỉ bắt đầu thu thập giấy tờ vài ngày sau vụ bắt Điếu Cày, cho nên Viện Kiểm sát Nhân dân không thể buộc Điếu Cày vào tội trốn thuế “dựa trên một số tài liệu”, như họ đã nói trước khi khám nhà. Trước lúc bị bắt, Điếu Cày cũng không nhận được bất kỳ một thông báo nào từ cơ quan thuế địa phương, liên quan đến việc buộc tội trốn thuế. Tất cả các câu hỏi đặt ra cho ông trong hàng giờ thẩm vấn trước đó chỉ tập trung vào hoạt động viết blog, đặc biệt là vào Câu lạc bộ Nhà báo Tự do.

Lê Công Định cũng phát hiện ra rằng trên thực tế, Điếu Cày không hề phạm tội trốn thuế. Thay vì thế, chính công an đã yêu cầu cơ quan thuế địa phương không nhận khoản tiền thuế quá hạn nộp cả từ Điếu Cày lẫn bên thuê nhà của ông, nếu không được phép của công an. Yêu cầu đó của phía công an được đưa ra từ ngày 25-2-2008. Nói cách khác, “trốn thuế” là môt cái bẫy được giăng ra cho Điếu Cày từ mấy tháng trước khi ông bị bắt.

Bản thân Lê Công Định cũng bị bắt một năm sau đó và bị buộc tội âm mưu lật đổ chính quyền.

Một luật sư khác, ông Lê Trần Luật, từng đề nghị hỗ trợ pháp lý miễn phí cho Điếu Cày, thì bị công an quấy nhiễu và cũng bị triệu tập để thẩm vấn. Công an hỏi Lê Trần Luật về quan hệ của ông với Điếu Cày, động cơ đằng sau việc đề nghị cãi miễn phí cho Điếu Cày, và hỏi ông biết những gì về “Câu lạc bộ Nhà báo Tự do bất hợp pháp” kia.

Ngày 10-9-2008, Điếu Cày bị Tòa án Nhân dân TP.HCM kết án 30 tháng tù giam. Thật trớ trêu, vào ngày 18-10-2010, chỉ một ngày trước khi Điếu Cày kết thúc thời gian thụ án, blogger AnhbaSG, cũng là thành viên Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, bị bắt.

Điếu Cày tiếp tục bị giam theo tội danh mới, “tuyên truyền chống nhà nước”. Gia đình ông cũng bị chính quyền quấy nhiễu.

Một lời cảnh cáo gửi đến các blogger

Trong thời gian trước phiên xử Điếu Cày vào tháng 9-2012, một cuộc vận động kiến nghị trên mạng đã thu hút hàng nghìn người ký tên vào một bức thư ngỏ gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, kêu gọi trả tự do cho Điếu Cày. Nhiều blogger may áo phông có in khẩu hiệu “Tự do cho Điếu Cày, tự do cho người yêu nước”. Không khí căng thẳng đến nỗi cái Viện Kiểm sát Nhân dân do công an chi phối kia phải cố giữ bí mật ngày giờ xét xử.

Phiên tòa ngày 24-9 thu hút sự chú ý chưa từng có trong cộng đồng blog và mạng xã hội ở Việt Nam (chủ yếu là trên Facebook). Hàng chục blogger từ nhiều địa phương khác đến TP.HCM và đi tới Tòa án Nhân dân, cố gắng tham dự phiên tòa được coi là công khai, bất chấp sự phong tỏa của công an. Công an phá sóng điện thoại di động; nhiều người bị đe dọa, bị quấy phá, và bị đánh, điện thoại cùng máy ảnh bị giật. Báo chí quốc doanh mở một chiến dịch tấn công cá nhân Điếu Cày cùng với các blogger “chống nhà nước” nói chung.

H2Giới bình luận trên mạng nói rằng bằng việc gán cho Điếu Cày một mức án nặng như thế, chính quyền muốn gửi thông điệp rằng họ sẽ rất cứng rắn với những kẻ dám chỉ trích nhà nước.

Tuy nhiên, bản án nặng nề không tạo ra được sự sợ hãi mà chính quyền mong đợi từ phía các công dân. Thay vào đó, cơn phẫn nộ lan tràn trên khắp mạng Internet tiếng Việt. Ngay cả một số thành viên của cộng đồng blogger, vốn dĩ ủng hộ nhà nước, cũng phải thừa nhận rằng bản án là bất công đối với những blogger chỉ lên tiếng một cách ôn hòa, sử dụng một laptop có nối mạng.

Nhiều người so sánh vụ xử Điếu Cày với vụ việc một viên công an lạm quyền, đánh chết một công dân không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, viên công an này chỉ bị kết án 4 năm tù. Nhiều người nữa than rằng ở Việt Nam, “công lý chỉ là trò hề”, “viết blog bây giờ cũng là nghề nguy hiểm”, “nếu ghét thằng nào thì thà giết nó đi, còn hơn là viết blog nói xấu nó, vì phát biểu ý kiến ở đây còn bị trừng trị nặng hơn tội giết người”.

Nguồn ảnh: DanlamBao, ảnh chụp màn hình Youtube từ Trandaiquang video.

Nguồn: SEAPA

căn cứ tên lửa hạt nhân tại đông đức


Một căn cứ tên lửa hạt nhân Sôviết tại Đông Đức (trước đây) mà các máy bay do thám chưa từng phát hiện được.

Vào năm 1959, đây là một thông tin tuyệt mật và hoàn toàn không được tiết lộ cho mãi đến gần đây: một căn cứ tên lửa hạt nhân bên ngoài lãnh thổ Liên Xô. Nhưng ngày nay nó vẫn còn đó, hoang phế, nhường chỗ cho cây cỏ đang mọc lên giành lại vùng đất cũ phía bắc của thành phố Bá Linh

Tác giả bài viết: Stephen Evans, phóng viên Tin tức BBC, Berlin

Ngày nay nó vẫn là một địa điểm khó tìm nhất. Một vùng trảng dọc theo con đường cây cỏ mọc đầy, thoạt trông cũng như mọi dải đất trống trong miền rừng Branđenbuốc mênh mông. Nhưng trên nền đất đó, có một dải bêtông bằng một nửa sân quần vợt, ở ngay giữa nó là tấm đế bằng thép dày.

Đó là bệ phóng dùng cho một trận tấn công hạt nhân về phía Tây Âu. Các tên lửa hạt nhân Liên Xô có sức nổ gấp hai mươi lần trái bom ở Hiroshima đã được lắp đặt tại đây, sẵn sàng để bắn tới các mục tiêu như Luân Đôn, các cơ sở hạt nhân phía đông nước Anh. Ba năm trước vụ khủng hoảng tên lửa hạt nhân tại Cuba, Liên Xô đã đặt vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ nước ngoài, trong khu rừng này của Đông Đức trước đây.

Nơi nầy từng là trung tâm đồn trú của 15,000 quân, nhưng giờ đây thiên nhiên đã che phủ lên chỗ từng là tiền đồn của đế chế Sôviết. Năm 1994, khi Hồng quân ra đi, cây cỏ đã mọc lên để giành lại chỗ đất trống. Chỉ còn lại những đoạn đường rừng đầy cỏ hoang dẫn vào khu tổ hợp, gần ngôi làng Vogelsang.


Trong những năm 1950, người ta đã cố hết sức để che dấu bệ phóng này khỏi tấm nhìn của các máy bay do thám và những con mắt tò mò của người dân Đức  Có lẽ nhờ được bảo mật hết sức cẩn thận mà căn cứ hạt nhân đầu tiên của Liên Xô đã không gây ra tiếng xầm xì. Nhưng các cơ quan tình báo Tây Đức, Mỹ, Anh, Pháp đã có suy đoán về những gì đang xảy ra

Ngày nay, ngay trung tâm của thành phố ma này vẫn còn lại ngọn tháp nhỏ có khắc hình của Lê nin, ngay ở trên đỉnh chóp. Khu này cũng còn ngôi trường với tranh bích họa cho trẻ em, nay đã bong tróc: lũ thiên nga đang bay, những con thuyền bơi trên sông, với nền trời xanh hay ánh nắng vàng. Tường ngoài còn trang trí hình Lê Nin, những chiếc xe tăng Hồng quân đang tiến công..

Nhưng hoạt động thực sự của căn cứ chính là đầu bên kia của dải đất: những bunke được che lấp dưới đất, và nhiều hầm công sự bê tông chứa đầu đạn hạt nhân. Và rồi, phía dưới một đoạn đường ngắn, có một khoảng đất trống. Đó chính là dải đất yên bình cho loại vũ khí giết người hàng loạt được sẵn sàng phóng lên.


Từ bên dưới các tán lá vòm cây dày đặc nhìn lên, hầu như không thấy một chút bầu trời, điều đó có thể hiểu được vùng trảng này khó mà bị các máy bay do thám của những năm 1960 phát hiện được. Tại chỗ trống  nằm dưới những tán sồi, có một bệ bê tông kiên cố, mặt trên là tấm kim loại được bắt xuống bằng bulông, dùng làm bệ phóng có thể bắn đến những mục tiêu xa hơn 1.200 cây số. Và Luân đôn chỉ cách xa đó khoảng 1.000 cây.

Theo các báo cáo mật của tình báo Hoa Kỳ được công bố sau ngày kết thúc chiến tranh lạnh, căn cứ đã được xây dựng từ năm 1959. Với trường hợp Cuba, các ảnh chụp không thám rất rõ ràng, và Liên Xô bị đưa ra trước những bằng chứng không thể chối cải. Sau hai tuần căng thẳng, họ đã phải lui bước và chấp nhận tháo dỡ các đầu đạn nguyên tử.  Nhưng căn cứ tên lửa tại Đức thì không nhìn thấy rõ ràng.

Các bệ phóng di động sẽ được bắt xuống các tấm thép nối kết với bệ bê tông bên dưới.

Ngày 11 tháng Tám, 1960, CIA viết một báo cáo mật có tựa đề “Khả năng có Căn cứ Tên lửa Ngụy trang tại Đông Đức”. Đây một loạt các quan sát cho thấy những mảnh thông tin rải rác có thể ghép lại thành một bức tranh toàn thể rộng lớn và mạch lạc.

Người Mỹ bấy giờ biết đã có mặt các đầu đạn và hệ thống di chuyển vì nó được nhìn thấy khi diễu hành trước các nhà lãnh đạo Bộ chính trị Đông Đức và các ống kính truyền hình  trong ngày lễ 1 tháng Năm của những năm 1957 và 1960. Cơ quan tình báo Hoa Kỳ gọi nó là Shyster (Tên Vô đạo) hoặc SS3 (R5 trong tài liệu của người Nga).

Nhưng họ sẽ bố trí chúng ở đâu ? Liên bang Xô viết thì quá xa để bắn tới các mục tiêu tại các nước phương Tây

Các mảnh ghép của bức tranh được tập hợp lại. Một số các chi tiết được chuyển về từ các chuyên viên tình báo phương Tây làm việc tại Đông Đức, những người chỉ đơn giản làm công việc theo dõi những hình ảnh diễn ra trên đường bộ hay tàu hỏa qua lại giữa biên giới Ba Lan và Đông Đức


Báo cáo CIA viết “Chỉ ít lâu sau thời điểm nửa đêm, sáng ngày 2o tháng Tư, năm 1959 người ta thấy một đoàn xe quân sự của Liên Xô dẫn đầu là 2 xe tải kiểu GAZ-69A di chuyển rất chậm từ hướng phi trường Jueterbog-Damm và khu vực cầu chuyển hàng cho tàu hỏa phía tây bắc dọc theo bìa tây ngoại thành Jueterbog”

Chỉ vài tháng sau lại có tường trình: “Một đoàn 8 xe rơmóc, căn cứ trên ảnh chụp, có lẽ đúng chủng loại những chiếc  từng xuất hiện trong đợt diễu hành các tên lửa Shyster, được phát hiện thấy đi vào Đông Đức bằng đường tàu hỏa tại Frankfurt-Oder vào ngày 9 tháng Mười một, năm 1959”

Một số các chuyến hàng tàu hỏa quân sự đặc biệt, có nghi vấn là chuyên chở các đầu đạn Sôviết chưa xác định được chủng loại cùng với các thiết bị liên quan cũng đã được phát hiện tại một loạt địa điểm tại Đông Đức trong năm 1959

Từ các đầu mối đã có, CIA kết luận địa điểm trong khu rừng phía bắc Bá Linh đã được sử dụng cho các bệ phóng di động cho các đầu đạn hạt nhân.

“Việc sử dụng các tên lửa Shyster từ các căn cứ ở Đông Đức sẽ gia tăng khả năng tấn công của các tên lửa Liên Xô nhằm vào các mục tiêu NATO tại Tây Âu và Anh Quốc”, bản báo cáo kết luận.

Một câu chuyện của CIA sau đó kể lại việc nhà lãnh đạo Sôviết Nikita Khrusốp đã hỏi một nhà thiết kế quân sự là cần bao nhiêu đầu đạn nguyên tử đủ để hủy diệt nước Anh và nước Pháp. Trước khi nhà thiết kế kịp trả lời, thì Dmitri Uxtinôp, Chủ tịch Ủy ban Công nghiệp Quân sự đã đáp ngay: “Anh 5, vài đầu nữa cho Pháp, là 7 hoặc 9, tùy phương án chọn mục tiêu “

Những tên lửa đó, như sau này biết được, là từ các trảng bố trí trong cánh rừng phía bắc Bá Linh. Các nghiên cứu được công bố tại Hoa Kỳ năm 2001 cho thấy có 2 căn cứ: Vogelsang và Fuerstenburg (cách đó 20 cây số), mỗi bên có sáu tên lửa

Nhưng ngày nay người ta biết rằng những tên lửa bố trí ở Đông Đức mùa xuân 1959 đã được đột ngột rút đi ngay trong năm sau, điều mà chính CIA cũng không hề hay biết, khiến mãi đến đầu năm 1961 họ vẫn còn lo lắng về sự hiện diện của chúng trong lãnh thổ Đông Đức.


Tiến sĩ Dr Paul Maddrell, thuộc Đại học Loughborough, một chuyên gia về các hoạt động tình báo của phương Tây tại Đông Đức, cho rằng việc Khrusôp triển khai vũ khí nguyên tử tại đây là xuất phát từ chiến lược “hăm dọa hạt nhân”

Paul Maddrell nhận định: “Nắm 1956, vào thời điểm xảy ra vụ khủng hoảng kênh đào Suez, Khrusốp từng đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân, và ông ta cả nghĩ việc đe dọa của mình là rất thành công, từ đó Khrusốp quan niệm hăm dọa hạt nhân (nuclear blackmail) là thứ chính sách hữu hiệu và cần thiết. Các đầu đạn nguyên tử là để hỗ trợ chính sách đó”

Thế thì tại sao họ lại nhanh chóng rút về? Maddrell cho rằng việc này liên quan đến chuyện tháng Mười một 1958, Khrusốp đã đưa ra yêu cầu các nước phương Tây phải rời khỏi Tây Bá Linh. Khi NATO triển khai kế hoạch bảo vệ Tây Bá Linh, và có thể nếu cần, vượt qua lãnh thổ Đông Đức để giải tỏa sự bao vây thành phố. Mối nguy cơ xảy ra chiến tranh toàn diện đã tăng lên rõ rệt.

“Có thể chính trong tình huống cực kỳ căng thẳng đó ông ta [Khrusốp] đã không còn muốn cất giữ đầu đạn hạt nhân ở đó. Ông không muốn nổ ra trận giao chiến hạt nhân”, Maddrell nhận định.

Hàng mấy thập niên sau đó, Vogelsang là đại bản doanh của Sư đoàn 25 Thiết giáp của Liên Xô, là căn cứ quân sự lớn hàng thứ ba của Liên Xô đặt tại Đông Đức.

Ngày nay Vogelsang là chốn đẹp đẽ thần tiên. Khó mà tưởng tượng được rằng mối kinh hãi hạt nhân đã có thể đã được phóng ra từ những cánh rừng xanh tươi đó.

Khi binh lính Sôviết ra đi, họ đã mang theo hầu hết những gì có thể mang đi được. Chỉ còn lại một vài tấm hình và áp phích rải rác quanh những tòa nhà hoang phế. Đây là những tấm hình không thể gỡ ra: như tranh vẽ Lê Nin ở mặt tường bao bên ngoài hay chuỗi tranh bích họa trên tường lớp học và nhà ăn. Chúng còn đó, lớp sơn bong tróc loang lổ.

Thiên nhiên rốt cục giành lại chỗ đứng muôn đời của nó, dù nó không thể khỏa lấp hoàn toàn những bunke bêtông. Và sẽ cần thời gian để nó lại lấp đầy toàn bộ ngôi làng với hàng quán, rạp hát, văn phòng, trường học hay chỗ tập thể thao.



A Soviet missile base in Germany that spy planes never saw

It was top-secret in 1959 and remains almost completely unknown to this day – the first Soviet nuclear missile base outside the USSR. But it is still there, crumbling and steadily being reclaimed by nature in the forests north of Berlin.

By Stephen Evans BBC News, Berlin

It is still the hardest place to find. A glade down an overgrown path which seems like any other clearing in the endless woods of Brandenburg. But on its floor, there is a strip of concrete half the size of a tennis court, with a metal plate in the middle.

This is the launch-pad for a nuclear attack on Western Europe. Soviet nuclear missiles 20 times more powerful than Hiroshima were set up here, primed to be fired at targets including London and nuclear bases in eastern England.

Three years before the Cuban missile crisis, the Soviet Union had already placed nuclear weapons on foreign soil – in this wood, in what was then East Germany.

There was once a garrison town for 15,000 people here, but nature has overgrown this outpost of empire. When the Red Army left in 1994, the trees moved back to reclaim the land.

Only rough forest paths now lead to the complex itself, near the village of Vogelsang.


In the 1950s, huge efforts were made to hide it from Western spies, both spy planes and those with prying eyes in the German population.

It may be partly because the first foreign Soviet nuclear base was so well hidden that no fuss was made. But intelligence agencies in West Germany, the US, the UK and France had a good idea what was going on.

At the heart of the ghost town remains an obelisk on which the silhouette of Lenin can be seen – just – at the pinnacle. There is a school, with peeling murals for children – swans flying and a sailing ship in bright blues and yellows. The upright figure of Lenin, and a mural of Red Army tanks in action, adorn the wall outside.

But the real business of the base lies at its other end – bunkers covered in sand for missiles and hardened concrete bunkers for warheads.

And then, down a short track, there is a clearing. This idyllic glade is where the weapons of mass destruction would have been launched.

From among the trees, the sky is barely visible – which means that the glade is barely visible from the prying spy planes of the 1960s. In this clearing among the oaks, there is a concrete platform, on which there is a metal plate for the rocket launcher to be bolted down for firing at targets up to 1,200km (750 miles) away.

London is at a distance of about 1,000km.

According to secret American intelligence reports released since the end of the Cold War, the base was set up in 1959. With Cuba, the aerial photographs were clear and the Soviet Union was confronted with incontrovertible evidence. After two weeks of tension, the Soviet Union backed down and agreed to remove the weapons.

On August 11, 1960, the CIA wrote a secret report entitled “Possible Shyster Missile Base in East Germany”. It is a series of observations that give a good idea of how disparate pieces of information add up to a clear and bigger picture.

The Americans knew there was a new missile and trailer system in use because it had been paraded before the Politburo and cameras on May Day in 1957 and 1960. The CIA dubbed it the Shyster or SS-3 (R-5 to the Russians).

But where would they deploy it? The Soviet Union was too distant for it to reach prime Western targets.

Excerpt from CIA report

So pieces of a puzzle were filled in. Some of the details seem to have come from Western agents in East Germany who were simply watching what was going on – on the roads, or at railway crossings between Poland and East Germany.

“Shortly after midnight on the morning of the 20th of April 1959, a very slow moving column of Soviet military vehicles led by two GAZ-69A type trucks was observed proceeding from the direction in which the Jueterbog-Damm airfield and a railroad loading ramp are located in a northwesterly direction along the western outskirts of Jueterbog,” the CIA report says.

A few months later, another observation was made: “A group of eight trailers probably identical to the Shyster parade trailer, based on analysis of available photography, was observed entering East Germany by rail at Frankfurt-Oder, on 9 September, 1959.”

Khrushchev saw nuclear blackmail as a valuable policy initiative and he needed therefore, the nuclear missiles to back that up”

Dr Paul Maddrell Loughborough University

A number of special military train shipments, suspected of carrying unidentified Soviet missiles and related equipment were also spotted at several other locations in East Germany during 1959.

From all of the clues, the CIA concluded that the site in the forest north of Berlin was to be used for mobile launchers of nuclear weapons.

“The use of Shyster missiles from bases in East Germany would strengthen the Soviet missile capability against many Nato targets in Western Europe and England,” the report concluded.

A later CIA account told a story of the Soviet leader, Nikita Khrushchev, asking a military designer how many nuclear missiles it would take to destroy Britain and France. Before the designer could reply, the account continued, “Dmitri Ustinov, chairman of the Military-Industrial Commission, replied, ‘Five. A few more for France – seven or nine, depending on the choice of targets.'”

Those missiles, it turns out, would have come from the glades in the forest north of Berlin. Research published in the US in 2001, suggests that there were two bases – Vogelsang and Fuerstenburg, 20km away – each with six missiles.

But it is also now known that the missiles deployed in East Germany in spring 1959, were suddenly withdrawn later in the year – unbeknownst to the CIA, which was still worrying about their presence in the country in early 1961.

Loughborough University’s Dr Paul Maddrell, an expert on Western intelligence operations in East Germany, believes Khrushchev deployed the weapons as part of a policy of “nuclear blackmail”.

“He threatened in 1956, at the time of the Suez Crisis, to use nuclear weapons, and he very much regarded his threat as successful, so he saw nuclear blackmail as a valuable policy initiative and he needed, therefore, the nuclear missiles to back that up,” he says.

And why were they so quickly withdrawn? Maddrell says it could be connected with Khrushchev’s demand in November 1958 that Western countries should leave West Berlin. As Nato put in place plans to defend West Berlin – and if necessary to cross East German territory in order to relieve the encircled city – the threat of a full-scale war rose dramatically.

“It may be that in those very, very tense circumstances he [Khrushchev] didn’t want nuclear missiles anywhere in the region,” suggests Maddrell. “He didn’t want a nuclear exchange.”

For decades after that, Vogelsang was the headquarters of the Soviet Union’s 25th Tank Division, the third biggest Soviet military base in East Germany.

Today it is a beautiful and eerie place. It is hard to believe that nuclear terror could have been unleashed from these woods.

When the Soviet soldiers left, they took virtually everything they could. Only a few loose photographs and posters are scattered around the derelict buildings. Pictures that couldn’t be moved – like the painted portrait of Lenin on an outside wall or the murals in the school and canteen – remain, their paint flaking.

Nature is re-asserting itself, though even nature can’t over-run a concrete nuclear bunker. And it will take time for it to completely over-run a whole town with a theatre, shops, offices, a gym and a school.

Slideshow production by Paul Kerley. Music courtesy of KPM Music

leçons de Munich et d’ailleurs : faire reculer la peur pour sauver le pays.

Các bài học Munich và những nơi khác : đẩy lùi nổi sợ để cứu đất nước

Tháng Mười 27, 2012

Author: André Menras, Hồ Cương Quyết, posted by David Uy
Translation: Nguyên Ngọc / et al.

Nos compatriotes Viet Kieu allemands en ont déjà rendu compte sur internet : la manifestation de Munich, le 20 octobre, contre l’expansionnisme chinois, la projection à Munich et à Nurnberg du film documentaire « Hoang Sa Vietnam Noi Dau Mat Mat »-toujours empêché au Vietnam- ont été un franc succès.

Invité à participer à ces actions, j’ai fait l’objet d’un accueil inattendu et très touchant par des amis jusque –là inconnus. A Munich : appartement aux pièces de verre où poussent un pin d’Alep de 3 mètres de haut et un bananier qui donne des bananes vietnamiennes en plein centre de cette belle ville allemande !…. A Nurnberg : dortoir austère mais chaleureux de la pagode bouddhiste Vien Nghiem où se côtoient la statue du roi Huong Vuong et du Đại đế Carolus (Karl der Große). Deux lieux si différents mais empreints de la même sérénité tranquille et forte, parfaitement intégrée au pays hôte mais profondément enracinée dans l’âme du pays natal vietnamien.

Une belle manifestation !

La marche de Munich a été exemplaire par sa tenue. Elle a débuté devant la place de l’université par une heure de prise de parole de la part les diverses composantes de l’organisation. Encadré d’un bout à l’autre par quatre voitures de policiers locaux parfaitement aimables et extrêmement protecteurs, le défilé s’est tranquillement et joyeusement déroulé pendant deux heures sur les trois kilomètres de la plus grande avenue de Munich qui relient l’Université aux belles rues passantes du centre ville. Là, devant des centaines de passants et curieux allemands transformés en spectateurs, eut lieu, pendant une heure, une nouvelle prise de parole. Sur les grandes banderoles bleues, les slogans en lettres blanches étaient méticuleusement pensés, accusant, en vietnamien, en anglais et en allemand la politique expansionniste des dirigeants de Pékin. La grande carte du Vietnam avec, bien en évidence, les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa, se dressait fièrement en tête du cortège. Les longues banderoles étaient disposées sur chaque côté du défilé, à la vue des passants auxquels de charmantes hôtesses en ao dai et chapeau traditionnel distribuaient des dépliants illustrés et imprimés en allemand tout en leur expliquant les raisons et le but de la manifestation. Un animateur plein d’énergie et de gaité envoyait au micro les slogans repris par tous : « Hoang Sa, Truong Sa, mein Vietnam !», « I love Vietnam ! », « Wir lieben Vietnam ! ». De belles chansons populaires, belles comme la multitude d’ao dai et de sourires qui coloraient le défilé, ont transformé cette manifestation en véritable spectacle de rue, à la fois culturel et très politique, donnant à notre message contre l’agression chinoise un attrait et une force de persuasion vivante et émouvante. Un succès. Un grand succès qui fera date dans l’histoire du mouvement résistant à l’agression chinoise de type nouveau. Une référence pour le futur, à Munich et ailleurs. Pour en parler, un de mes amis a employé l’expression : « tinh than Munich ». C’est exactement cela. Mais l’esprit des « huit de Munich » est le contraire de celui que l’Histoire a retenu.

En effet historiquement, le nom de Munich est de triste mémoire. C’est dans cette ville qu’en septembre 1938 les représentants de la France et de l’Angleterre ont signé avec Hitler un humiliant traité qui allait ouvrir au dictateur la porte de l’agression expansionniste dans toute l’Europe. Ils pensaient que concéder à l’Allemagne hitlérienne l’annexion par la force de la Tchécoslovaquie calmerait ses ardeurs expansionnistes et guerrières. Ils pensaient avoir sauvé la paix en trahissant le droit des peuples, ils ont en fait préparé la guerre ! La peur n’écarte pas le danger. La lâcheté non plus. Au contraire, elles l’encouragent. A Munich, l’histoire en a donné une douloureuse leçon : on ne signe pas de traité avec l’expansionnisme, surtout quand celui-ci est clairement annoncé et qu’on en est la première victime !

Mais, toutes proportions gardées, l’esprit des « huit de Munich » qui ont, en toute indépendance, organisé la manifestation et la projection du film HSVNNDMM, n’est pas celui de la peur ni celui de la honte.

Je peux témoigner du patriotisme indéfectible de ces huit compatriotes. Et, je peux dire que ce patriotisme a dû être d’une force extraordinaire pour leur permettre de dépasser leurs différences, leurs oppositions, d’aller au-delà des blessures du passé, toujours ouvertes, de résister aux menaces directes ou déguisées et quelques fois aux invectives dont ils ont été victimes des deux côtés.
Ils ont été sous le feu discret mais bien réel d’un régime frileux qui s’accroche pitoyablement aux « 16 chu vang et 4 tot » avec les pirates de Pékin (La « Hoi nguoi Viet » de Stuttgart a refusé de se joindre à Munich pour projeter le film HSVNNDMM). Ils ont reçu les menaces violentes où plus délicatement exprimées de dirigeants d’une communauté de réfugiés thuyen nhan qui fait passer son drapeau chargé d’amertume avant la défense de leur peuple. Combien de concessions, combien de discussions passionnées, mais aussi combien de tolérance, d’affection, d’amour du pays. Combien de responsabilité et de courage chez ces huit hommes et femmes responsables. Jamais jusqu’ici je n’ai été témoin d’une telle maturité humaine et politique de la part de personnes aux parcours de vie si fortement différents. Comme je m’en étonnais devant eux quand j’assistais à leur dernière réunion d’organisation, la veille du défilé, un d’entre eux m’a répondu en souriant: « Nous apprenons la démocratie ». C’est vrai, mon ami, la démocratie, si belle, est si dure à enfanter, si fragile à préserver et si coûteuse à faire grandir ! Elle ne peut voir le jour et grandir que dans le courage. Quelle belle leçon de combat démocratique nous donnent ces amis de Munich ! Ils ont vaincu la peur pour libérer la parole et l’action, pour protéger le Vietnam.

Vaincre les peurs

Cette peur du système, je l’ai maintes fois côtoyée dans le pays : peur d’être menacé, suivi, maltraité, peur de perdre son emploi, de voir ses proches inquiétés dans leur travail, dans leurs études, peur d’être arrêté, jeté en prison… Cette peur du système qui, même à l’étranger est relayée par les pouvoirs des ambassades dont on redoute des représailles administratives sur place ou les rapports envoyés au pays pouvant priver l’accès à la famille, aux amis. Le redoutable chapeau est vite sorti : « dien bien hoa binh », « the luc phan dong »…

Un autre genre de peur, dont j’ai également été témoin au contact des communautés Viet kieu, est aussi entretenu bien réellement dans « l’autre camp » qui se veut être à la fois victime exclusive de la guerre et tenant exclusif de la démocratie. Cette peur est entretenue par des groupes extrémistes, certes très minoritaires mais capables de violence et d’autres formes de pression. On sent monter de ces milieux une vraie haine, pareille à celle que j’ai subie en prison. Une haine aveugle nourrie d’expériences douloureusement vécues, figées dans les mémoires. Une haine qui se veut éternelle et vengeresse. Pour peu qu’on soit à l’écoute de « l’autre côté », on est vite affublé d’un autre chapeau : « traître », « qui-fait-le-jeu-des-communistes », « communiste infiltré »…

Pour ne pas se perdre et pour protéger le pays

Ces peurs, d’où qu’elles viennent, sont un véritable fléau humain, social, national. Elles sont individuellement angoissantes. Elles culpabilisent car elles confinent à l’inaction synonyme de complicité devant l’injustice, la violence arbitraire, la corruption politico-maffieuse, le pays menacé. Elles sont humiliantes et castratrices car elles étouffent la fierté citoyenne et patriotique, la volonté de créer du nouveau. Elles déshumanisent et poussent certains au désespoir. Quelque fois justifiées comme un réflexe protecteur, ces peurs sont, en fin de compte, auto-destructrices. Nationalement, elles sont inhibitrices et ne font que nourrir l’immobilisme favorable à toutes les agressions chinoises et à l’impunité de ceux qui les favorisent ou les soutiennent. Les peurs désarment !

Le peuple vietnamien, dans son immense majorité, veut la réconciliation, l’unité nationale dans une paix qui lui appartienne. Il en a un besoin vital pour faire face au terrible défi que lui lance l’expansionnisme chinois prédateur des ressources naturelles et humaines, destructeur des identités culturelles, porteur de violence et de guerre… Il en a besoin pour vaincre la corruption endémique, pour vaincre la pauvreté encore bien présente.

Vaincre ces peurs pour agir solidairement est un vrai combat sur soi-même et pour le pays. Un combat qu’il faut gagner sous peine de tout perdre. Y compris de se perdre soi-même. C’est nécessaire et possible.

C’est la leçon donnée par le groupe des huit de Munich, mais aussi par ceux de Berlin, Kholn, Praha, Warsava, Leipzig, Hannover, Frankfurt-Offenbach, Sarrebruken, Nurnberg, Toulouse, Lyon, Paris…Vaincre la peur comme nos compatriotes de Binh Chau et de Ly Son le font chaque fois qu’ils prennent le large pour aller gagner leur vie dans le eaux vietnamiennes d’Hoang Sa et de Truong Sa. Vaincre la peur comme nos amis de Saigon et de Ha Noi qui descendent dans la rue pour les protéger et défendre leur patrie.

Merci à vous tous, mes amis, pour me nourrir chaque jour un peu plus de votre courage.

Ah, une information oubliée : en deux jours, nos compatriotes ont contribué à l’aide des pêcheurs, veuves et orphelins pour un montant de 5300 euros !

André Menras, Ho Cuong Quyet

Texte français par l’écrivain Nguyen Ngoc.

Theo Ba Sàm

Nhiều đồng bào Việt kiều Đức của chúng ta đã tường thuật trên Internet: cuộc biểu tình ở Munich ngày 20 tháng mười, chống bành trướng Trung Quốc, các buổi chiếu phim ở Munich và Nurnberg bộ phim tài liệu « Hoàng Sa Việt Nam, Nổi đau mất mát » – vẫn luôn bị cấm ở Việt Nam – đã thật sự thành công.

Được mời tham dự các hoạt động ấy, tôi đã là đối tượng của một sự đón tiếp bất ngờ và rất cảm động của những người những người bạn trước đó chưa từng quen. Ở Munich : căn nhà với các phòng bằng kính nơi trồng một cây thông Alep cao 3 mét và một cây chuối trổ những quả chuối Việt Nam tại ngay trung tâm thành phố Đức đẹp đẽ này. Ở Nurnberg : chỗ ngủ đơn sơ mà thịnh tình của chùa phật giáo Vĩnh Nghiêm nơi đứng cạnh nhau là tượng vua Hùng Vương và tượng Đại đế Carolus. Hai nơi thật khác biệt song đều thấm đượm cùng một không khí thanh tịnh bình thản và mạnh mẽ, hòa nhập hoàn toàn với đất nước chủ nhà mà vẫn sâu đậm tâm hồn quê hương xứ Việt.

Một cuộc biểu tình tuyệt đẹp !

Cuộc tuần hành ở Munich thật mẫu mực về tư thế. Khởi đầu trước quảng trường Đại học với phát biểu của các bộ phận tham gia tổ chức trong vòng một giờ đồng hồ. Bốn chiếc xe cảnh sát địa phương cực kỳ thân thiện và sẵn sàng bảo vệ theo suốt, dòng người  chuyển bước yên tĩnh và vui vẻ suốt hai giờ liền trên ba cây số của đại lộ lớn nhất của Munich nối liền trường Đại học với các con đường đông người qua lại ở trung tâm thành phố. Tại đấy, trước hàng trăm người qua đường và những người Đức tò mò đã biến thành khán giả, lại có một bài phát biểu mới, kéo dài một tiếng đồng hồ. Trên những tấm băng rôn lớn màu xanh là những khẩu hiệu được suy tính rất kỹ, chữ trắng, bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Đức, tố cáo chính sách bành trướng của những người lãnh đạo Bắc Kinh. Tấm bản đồ Việt Nam lớn, với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nổi bật, được giương lên kiêu hãnh ở đầu đoàn người. Những tấm băng rôn dài được bố trí dọc hai bên, thuận tiện cho người qua đường có thể đọc, trong khi các cô chủ nhà duyên dáng mặc áo dài và đội nón lá truyền thống vừa phân phát những tờ gấp có minh họa và in tiếng Đức, vừa giải thích cho họ lý do và mục đích của cuộc biểu tình.Một hoạt náo viên nang nổ và vui vẻ dùng loa hô vang các khẩu hiệu được mọi người đáp lại : « Hoàng Sa, Trường Sa, của Việt Nam ! », « Tôi yêu Việt Nam ! » Hoang Sa, Truong Sa, mein Vietnam ! » « I love Vietnam ! », « Wir lieben Vietnam ! ».Những bài hát dân gian tuyệt vời, cũng tuyệt vời như vô số áo dài và những nụ cười khiến đoàn người rực rỡ sắc màu, biến cuộc biểu tình thật sự trở thành một cảnh tượng đường phố vừa đậm đà văn hóa vừa rất chinh trị, mang lại cho thông điệp chống xâm lược Trung Quốc của chúng ta một sức hấp dẩn và thuyết phục sống động và rất truyền cảm. Quả là một thành công. Một thành công to lớn mà sẽ khắc ghi trong lịch sử phong trào chống xâm lược kiểu mới của Trung Quốc. Một tham khảo cho tương lai, ở Munich và những nơi khác. Nói về điều này, một người bạn của tôi đã gọi đấy là « tinh thần Munich ». Chính xác là vậy. Nhưng tinh thần của « tám người Munich » là trái ngược với cái tinh thần mà Lịch sử đã ghi lại.

Quả thật về mặt lịch sử, Munich là ký ức buồn. Chình trong thành phố này, tháng chín năm 1938, những người đại diện của Pháp và Anh đã ký với Hitler một hiệp ước nhục nhã sẽ mở cửa cho tên độc tài lao vào cuộc xâm lược bành trướng trên toàn bộ châu Âu. Họ tưởng nhân nhượng nước Đức của Hitler sáp nhập Tiệp Khắc bằng vũ lực thì sẽ làm dịu được sự hung hăng bành trướng và hiếu chiến của chúng. Họ tưởng đã cứu vãn được hòa bình bằng cách phản bội quyền của các dân tộc, thực tế là họ đã dọn đường cho chiến tranh ! Sợ hãi không đẩy xa được hiểm nguy. Hèn nhát càng không. Trái lại, những thái độ này còn khuyến khích nó. Tại Munich, lịch sử đã cho một bài học đau đớn : không thể ký hòa ước với chủ nghĩa bành trướng, nhất là khi nó được tuyến bố rõ ràng và ta là nạn nhân đầu tiên của nó !

Nhưng, thận trọng mà so sánh, tinh thần của « tám người ở Munich », những người đã hoàn toàn độc lập tổ chức cuộc biểu tình và chiếu phim HSVNNDMM, không phải là tinh thần cúa sợ hãi hay hổ thẹn.

Tôi có thể làm chứng cho tinh thần ái quốc bất diệt của tám đồng bào này. Và tôi có thể nói lòng ái quốc ấy phải đạt đến một sức mạnh kỳ lạ để có thể cho phép họ vượt qua các khác biệt, các đối lập của họ, vượt qua những vết thương quá khứ, vẫn mãi tứa máu, để kháng cự lại những đe dọa trực tiếp hay ngụy trang, và đôi khi cả những lời thóa mạ mà họ là nạn nhân của cả hai phía.
Họ nằm trước làn đạn ẩn giấu mà hoàn toàn có thực của một chế độ run rẩy cứ đeo bám đến thảm hại « 16 chữ vàng » với lại « 4 tốt » của lũ cướp biển Bắc Kinh (« Hội người Việt » ở Stuttgart đã từ chối hợp tác với Munich để chiếu bộ phim HSVNNDMM). Họ đã nhận được những lời đe dọa hung hăng hay được phát biểu một cách tế nhị hơn của những người lãnh đạo một cộng đồng thuyền nhân khăng khăng trương ngọn cờ đầy đắng cay của mình lên trên trách nhiệm bảo vệ dân tộc. Bao nhiêu nhân nhượng, bao nhiêu thảo luận hăng say, mà cũng biết bao nhiêu khoan dung, thương mến, bao nhiêu tình yêu đất nước. Bao nhiêu trách nhiệm và can đảm ở tám người đàn ông và đàn bà hữu trách ấy. Cho đến nay tôi chưa bao giờ được chứng kiến một sự trưởng thành  đầy tính người và về chính trị đến như vậy từ những con người từng qua những trải nghiệm sống hết sức khác nhau như vậy. Thấy tôi ngạc nhiên về điều đó lúc dự cuộc họp tổ chức cuối cùng của họ hôm trước ngày tuần hành, một người trong số họ mỉm cười trả lời tôi : « Chúng tôi học dân chủ ». Vâng, bạn ạ, dân chủ, đẹp đẽ biết bao, khó khăn biết bao để nó sinh thành, mong manh biết bao để  giữ gìn nó, và đắt giá biết bao để nuôi cho nó lớn lên ! Nó chỉ có thể ra đời và lớn lên trong dũng cảm. Đẹp đẽ biết chừng nào là bài học về cuộc chiến đấu dân chủ mà những người bạn ở Munich đã cho chúng ta. Họ đã thắng nổi sợ hãi để mở miệng và hành động, để bảo vệ Việt Nam,

Thắng những nổi sợ

Tôi đã bao nhiêu lần cận kề với nổi sợ chế độ ấy ở trong nước : sợ bị đe dọa, bị theo rỏi, bị ngược đãi, sợ bị mất việc, sợ thấy người thân của mình bị gây khó khăn trong công việc, trong học tập, sợ bị bắt, bị tống vào tù … cái nổi sợ chế độ, thậm chí lại được thay thế bằng các sứ quán mà ta sợ các hành động khủng bố hành chính tại chỗ hoặc các báo cáo về trong nước có thể khiến ta không còn gặp lại được gia đình, bạn bè. Cái mũ đáng sợ sẽ nhanh chóng xuất hiện: « diễn biến hòa bình », « thế lực phản động » …

Một loại nổi sợ khác mà tôi từng được chứng kiến khi tiếp xúc các cộng đồng Việt kiều, cũng hiện diện rất rõ ở « phe bên kia », trong cái phe muốn tự coi mình vừa là nạn nhân đặc quyền của chiến tranh và là người độc quyền nắm giữ dân chủ. Nổi sợ này được nuôi dưởng bởi các nhóm cực đoan, quả là rất thiểu số nhưng có thể gây ra bạo lực và các hình thức gây sức ép khác. Ở những chỗ ấy bốc lên mùi vị của một nổi hận thù thật sự, giống như mối thù hận tôi từng phải chịu đựng trong tù. Một nổi thù hận mù quáng được nuôi dưỡng bằng những trải nghiệm đau đớn, đã đông cứng trong ký ức. Một oán hận muốn là vĩnh viễn và kêu đòi phục thù. Chỉ cần ta ghé tai về phía bên kia một chút là lập tức bị khoác cho một cái mũ khác : « phản bội », « chơi trò cộng sản », « cộng sản nằm vùng » …

Để không đánh mất chính mình và để bảo vệ đất nước

Những nổi sợ ấy, dù đến từ đâu, là một tai họa thật sự đối với con người, với xã hội và quốc gia. Chúng là tội ác vì chúng giam hãm người ta trong tình trạng bất động đồng nghĩa với đồng lõa với bất công, với bạo lực tùy tiện, với tham nhũng mang tính chất mafia chính trị, với tình trạng đất nước bị uy hiếp. Chúng sĩ nhục và thiến hoạn con người vì chúng bóp nghẹt niềm kiêu hãnh công dân và ái quốc, cùng ý chí sáng tạo cái mới. Chúng hủy hoại nhân tính và đẩy một số người vào tuyệt vọng. Đôi khi được biện minh là phản xạ tự vệ, cuối cùng chúng có tác dụng tự hủy hoại. Ở cấp độ quốc gia, chúng gây ức chế và chỉ nuôi dưỡng sự bất động có lợi cho tất cả hành vi xâm lược của Trung Quốc và cho những kẻ tiếp tay hay ủng hộ các cuộc xâm lược ấy mà không bị trừng phạt. Các nổi sợ hãi tước vũ khí của con người !

Tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam mong muốn hòa giải, thống nhất dân tộc trong một nền hòa bình mà mình làm chủ. Đấy là nhu cầu sống còn của đất nước để có thể đối mặt với thách thức khủng khiếp của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc hau háu tài nguyên thiên nhiên và con người, tàn phá các căn tính văn hóa, chỉ mang đến bạo lực và chiến tranh … Đất nước cần điều đó để chiến thắng nạn dịch tham nhũng, để thắng tình trạng đói nghèo vẫn còn đó.

Thắng những nổi sợ hãi ấy để hành động chặt chẽ cùng nhau trong một cuộc chiến đấu thật sự với chính mình và vì đất nước. Một cuộc chiến đấu nhất thiết phải thắng để không mất đi tất cả. Kể cả đánh mất chính mình. Một chiến thắng chẳng những khả dĩ mà còn là cần kíp.

Đấy là bài học mà nhóm tám người ở Munich, và cả những người ở Berlin, Kholn, Praha, Warsava, Leipzig, Hannover, Frankfurt-Offenbach, Sarrebruken, Nurnberg, Toulouse, Lyon, Paris… đã cho chúng ta … Thắng nổi sợ hãi như các đồng bào của chúng ta ở Bình Châu và Lý Sơn mỗi lần họ ra khơi để mưu sinh trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Thắng nổi sợ hãi như các bạn của chúng ta ở Sài Gòn và Hà Nội đã xuống đường để bảo vệ tổ quốc mình.

Cám ơn tất cả, tất cả các bạn của tôi, đã nuôi dưỡng tôi từng ngày bằng lòng can đảm của các bạn.

Ôi, tôi còn quên một chuyện : trong hai ngày, các đồng bào của chúng ta đã góp ủng hộ các ngư dân, góa phụ và trẻ mồ côi 5300 ơ-rô !

André Menras, Hồ Cương Quyết

Nguyên Ngọc dịch từ nguyên văn tiếng Pháp.