báo cáo Tài chính công ty TNHH DFS Singapore (Pte)

 

Cty TNHH DFS Singapore (Pte)
Thuyết minh cho Báo cáo Tài chính

Cho năm tài chính kết thúc vào ngày 31 tháng Mười hai 2011


DFS Singapore (Pte) Limited
Directors’ Report

Các Giám đốc trong Hội đồng Quản trị công ty hân hạnh trình bày báo cáo với các thành viên Báo cáo Tài chính đã được kiểm toán của công ty TNHH DFS Singapore (Pte) (sau đây gọi tắt là “Công ty”) cho năm tài chính kết thúc vào ngày 31 tháng Mười hai 2011,

1. Các Giám đốc Hội đồng Quản trị tham dự:

Những Giám đốc hiện diện tại văn phòng Công ty vào ngày của báo cáo này gồm có các ông:

Edward Joseph Brennan,

Stephen Frederick Mangum,

Craig Grant McKenna,

Timothy Thomas De Lessio,

M-+ichael Wfliam Schriver.

2. Về các thỏa thuận cho Hội đồng Quản trị của Công ty sở hữu cổ phần hay trái khoản

Ở bất cứ thời gian nào trong năm tài chính hoặc tại thời điểm kết toán năm tài chính, Công ty không được tham gia vào các thỏa thuận hay hợp đồng nào mà mục đích, một phần hay toàn bộ, dẫn tới việc cho phép các thành viên Hội đồng Quản trị của Công ty có thể thu lợi bằng việc sở hữu cổ phần hay trái khoản của Công ty hoặc bất kỳ bộ phận nào khác của Công ty.

3. Vốn cổ phần và trái khoản của Hội đồng Quản trị:

Các giám đốc trong Hội đồng Quản trị sau đây, đã nắm giữ chức vụ tại thời điểm kết thúc năm tài chính, theo sổ đăng ký nắm giữ cổ phần (shareholdings) của các giám đốc, được ghi sổ theo quy định của phần 164 của Đạo luật Doanh nghiệp Singapore, Cap.50, có lợi ích vể cổ phần quyền chọn (share options) của LVMH Moët Hennessy, Louis Vuiton S.A., là công ty nắm cổ phần khống chế, như sau:

Số cổ phần quyền chọn nắm giữ

Tên giám đốc Thời điểm 1.1.2011 Thời điểm 31.12.2011

Edward Joseph Brennan 63,024 47,892

Stephen Frederick Mangum 7,978 8,578

Craig Grant McKenna 2,355 957

Timothy Thomas De Lessio 6,465 5,814

Michael Williarn Schriver 2,837 3.621

Không có thay đổi nào đối với các lợi ích nêu trên trong Công ty giữa thời điểm kết thúc năm tài chính và ngày 2 tháng Sáu 2012. Trừ trường hợp được biểu lộ trong tường trình này không có giám đốc nào đang giữ chức vụ tại thời điểm kết thúc năm tài chính có lợi ích trong cổ phần, cổ phần quyền chọn, thương phiếu chứng khoán, hoặc trái khoản của Công ty hoặc các công ty liên quan, hoặc ở thời điểm bắt đầu hay thời điểm kết thúc năm tài chính.

(hết trang 1)


Báo cáo của Kiểm toán Độc lập

Cho năm tài chính kết thúc vào ngày 31 tháng Mười hai 2011

Gửi các thành viên của DFS Singapore (Pte) ,

Tường trình về Báo cáo Tài chính

Chúng tôi đã thực hiện kiểm toán đối với Báo cáo Tài chính của Công ty TNHH DFS Singapore (Pte) (gọi tắt là Công ty) ở các trang từ 6 đến 25, bao gồm bảng cân đối tại thời điểm 31 tháng Mười hai 2011, the statement of comprehensive income, the statement of charges in equity và báo cáo lưu chuyển tiền mặt của Công ty cho năm tài chính kết thúc ở thời điểm đó, và một tóm tắt về các chế độ kế toán và các thông tin diễn giải khác .

Trách nhiệm của Ban lãnh đạo đối với Báo cáo Tài chính

Ban lãnh đạo Công ty có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện báo cáo tài chính sao cho cung cấp được một cái nhin công bằng và trung thực, theo đúng các điều khoản Đạo luật Công ty Singapore (sau đây gọi tắt là Đạo luật) và Quy chuần Báo cáo Tài chính Singapore, thiết kế và duy trì hthống kiểm soát kế toán nội bộ đủ hiệu quả để cung cấp sự đảm bảo rằng các tài sản được bảo vệ, không bị thất thoát do việc sử dụng hay phân bổ sai quy định, các giao dịch được phê duyệt đúng cách và ghi chép đầy đủ và đúng đắn sao cho có thể thực hiện tốt báo cáo lãi /lỗ , cân đối tài chính một cách trung thực duy trì tính trách nhiệm trong quản lý tài sản của công ty.

Trách nhiệm của Cơ quan Kiểm toán

Trách nhiệm của chúng tôi là đưa ra ý kiến đối với Báo cáo Tài chính này căn cứ trên kết quả kiểm toán của mình. Chúng tôi thực hiện việc kiểm toán theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc gia Singapore (Singapore Standards on Auditing). Các tiêu chuẩn này đòi hỏi chúng tôi tuân thủ các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp cũng như trong khi lập khoạch và thực hiện công việc kiểm toán hầu có thể có được đánh giá đáng tin cậy liệu Báo cáo Tài chính có hay không có những sai lệch quan trọng nào không.

Công tác kiểm toán bao gồm những qui trình tìm kiếm các bằng chứng về các số tiền và những biểu hiện của chúng trong Báo cáo Tài chính,

Các qui trình được lựa chọn tùy thuộc vào sự suy xét của người kiểm toán, bao gồm cả việc đánh giá khả năng có sai lệch đáng kể trong báo cáo tài chính., hoặc cố tình hoặc do sai lỗi. Trong khi giả thiết những nguy cơ đó, người kiểm toán phải xem xét công tác kiểm soát nội bộ liên quan đến việc soạn lập báo cáo

tài chính, bảo đảm đưa ra một cách nhìn công bằng và trung thực để có thể thiết kế các qui trình kiểm toán thỏa đáng cho tình huống, mà không nhằm mục đích đưa ra ý kiến riêng về hiệu quả cùa công tác kiểm tra nội bộ. Công tác kiểm toán cũng bao gồm việc đánh giá về mức độ hữu hiệu của các chế độ kế toán đang được sử dụng và tính hợp lý trong những lượng định kế toán của Ban lãnh đạo cũng như việc đánh giá tổng thể về bản trình bày Báo cáo Tài chính

Chúng tôi tin tưởng rằng các chứng cứ kiểm toán chúng tôi có được là đầy đủ và thỏa đáng để làm cơ sở cho những kết luận kiểm toán của mình.

(hết trang 2)


1. Thông tin về Công ty

Công ty TNHH DFS Singapore (Pte) {DFS Singapore (Pte) Limited, gọi tắt là Công ty} là một công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập và đăng ký tại Singapore. Công ty mẹ trực tiếp của nó là DFS Venture Singapore (Pie) Limited, cũng được đăng ký thành lập tại Singapore, Công ty chủ quản sau cùng là LVMH Moët Hennessy Louis Vuitton S.A., được đăng ký tại France. Địa chỉ đăng ký của Công ty đặt tại 50 Công trường Raffles Place, #GB-00, Singapore, Tòa nhà Land Tower, Singapore 048523,

Hoạt động chính của Công ty bao gồm cung ứng hỗ trợ kỹ thuật: trong lĩnh vực marketing, khuyến mãi bán hàng, dịch vụ hậu mãi và kỹ thuật bán hàng cho các khách hàng bán buôn của công ty chủ quản, tức là Công ty TNHH OFS Venture Singapore.

Công ty có văn phòng đại diện tại Việt Nam hoạt động như văn phòng liên lạc để làm công tác nghiên cứu thị trường, các hoạt động xúc tiến bán hàng, và mở rộng các dự án hợp tác đầu tư tại Việt Nam.

2. Tóm tắt các Chế độ kế toán chủ đạo.

2.1 Cơ sở của việc lập báo cáo:

Báo cáo Tài chính của Công ty được lập theo Quy chuần Báo cáo Tài chính Singapore (“FRS”),

Báo cáo Tài chính được làm trên cơ sở chi phí lịch sử (historical cost) ngoại trừ các điểm nêu ra trong chế độ kế toán dưới đây.

Báo cáo Tài chính được trình bày bằng đơn vị tiền Đô la Singapore (SGD hoặc S$).

2.2 Các thay đổi trong chế độ kế toán


Các chế độ kế toán được sử dụng nhất quán với chính sách của năm tài chính trước đó, trừ việc năm tài chính hiện hành, Công ty Xăng sử dụng toàn bộ chuẩn mực tu chỉnh và cách diễn giải mới cho quy tắc FRS (1 NT FRS) sẽ có hiệu lực cho các niên hạn bắt đầu từ hoặc sau 1 tháng 1 năm 2011. Việc sử dụng tiêu chuẩn và cách diễn giải mới này không ảnh hưởng gì đến hiệu quả tài chính hoặc vị thế kinh doanh của Công ty.

(hết trang 3)


2. Tóm tắt về các chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2,3 Chuẩn mực đã ban hành nhưng chưa có hiệu lực thi hành

Công ty chưa đưa vào áp dụng những chuẩn mực sau đây, tuy đã được ban hành nhưng chưa có hiệu lực thi hành:

Mô tả Có hiệu lực cho các niên hạn tài chính
bắt đầu hoặc sau:

Tu chỉnh quy tắc FRS 107, về Công bố và Chuyển nhượng Tài chính 01 tháng 7, 2011

Tu chỉnh quy tắc FRS 1, về Cách trình bày các hạng mục của Thu nhập Tổng 01 tháng 7, 2012

Tu chỉnh quy tắc FRS 19, Phúc lợi Công nhân viên 01 tháng 1, 2013

Tu chỉnh quy tắc FRS 28, về Đầu tư trong các công ty thành viên và liên doanh 01 tháng 1, 2013

Tu chỉnh quy tắc FRS 112, về Khai trình lợi nhuận trong các doanh nghiệp khác 01 tháng 1, 2013

Tu chỉnh quy tắc FRS 113, về Các phép lượng giá giá trị thị trường 01 tháng 1, 2013

Tu chỉnh quy tắc FRS 107, Khai trình – Bù trừ Tài sản Tài chính và Công nợ Tài chính 01 tháng 1, 2013

Tu chỉnh quy tắc FRS 32, Bù trừ Tài sản Tài chính và Công nợ Tài chính 01 tháng 1, 2014

Hội đồng Quản trị đánh giá rằng việc áp dụng các chuẩn mực trên sẽ không gây ảnh hưởng nhiều đến Báo cáo Tài chính trong giai đoạn áp dụng ban đầu .

2.4 Đơn vị tiền tác nghiệp và ngoại tệ

(i) Đơn vị tiền tác nghiệp

Báo cáo Tài chính của Công ty sẽ được thể hiện bằng đô la Singapore, là đơn vị đồng tiền tác nghiệp của Công ty,

(ii) Giao dịch bằng ngoại tệ

Giao dịch bằng ngoại tệ sẽ được tính toán qua đồng đô la Singapore, và ghi chép trong công nhận ban đầu qua các đơn vị tiền tác nghiệp ở tỉ giá hối đoái gần sát với các đồng tiền chủ chốt tại thời điểm giao dịch. Các tài sản và nợ bằng tiền được chỉ định bằng ngoại tệ sẽ được tính toán bằng tỉ giá hối đoái như ở những ngày giao dịch ban đầu. Các mục tài sản không phải là tiền được tính toán theo giá thị trường (fair value) bằng đồng ngoại tệ sẽ được chuyển đổi thông qua tỉ giá hối đoái tại thời điểm định giá thị trường

Các sai lệch hối đoái phát sinh từ các thanh toán các tài sản tiền hoặc khi chuyển đổi các tài sản này vào thời điểm bảng cân đối được kết toán là lãi / lỗ. Công ty đạt lãi ròng giao dịch bằng ngoại tệ là $200,251 trong năm 2001 và lỗ $459,997 trong năm 2010

(hết trang 4)


2. Tóm tắt các chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2.5 Sự giảm giá các tài sản phi tài chính

Công ty sẽ đánh giá tại từng thời điểm báo cáo liệu có những dấu hiệu cho thấy có sự suy giảm giá trị đối với một tài sản nhất định. Nếu có một dấu hiệu như vậy, hoặc khi có yêu cầu kiểm định hằng năm về suy giảm đối với một tài sản, Công ty sẽ đưa ra lượng định con số có thể thu hồi của tài sản (recoverable amount)

Giá trị thu hồi của một tài sản là con số cao hơn, tính theo giá trị thị trường, của một tài sản hoặc đơn vị hoạt động (cash-generating unit) đem trừ đi chi phí để bán và giá trị sử dụng và được xác định cho một tài sản riêng rẽ, trừ phi tài sản này không phát sinh luồng tiền vào, thường là độc lập với các luồng tiền của các tài sản hay nhóm tài sản khác. Khi mà con số kết chuyển của một tài sản hay một đơn vị hoạt động vượt quá giá trị thu hồi, tài sản này bị xem là suy giảm và phải bị ghi giảm xuống bằng giá trị thu hồi. Khi tính toán giá trị sử dụng (value-in-use), dòng tiền tương lai ước định sinh ra do các tài sản sẽ được giảm giá xuống giá trị hiện tại bằng cách áp dụng tỉ số chiết khấu trước thuế phản ảnh đánh giá thị trường hiện hành với giá trị theo thời gian của tiền và các rủi ro liên quan đến tài sản. Khi xác định giá trị thị trường (fair value) trừ đi chi phí bán tài sản, phải xem xét các giao dịch thị trường, nếu có, xảy ra gần trước đó. Nếu không thể xác định có các giao dịch đó, thì cần áp dụng một mô hình đánh giá thích hợp. Các tính toán lượng giá này cần được hỗ trợ bằng các chỉ số đánh giá, giá cổ phần niêm yết của các công ty con giao dịch công bố hoặc các chỉ số giá trị thị trường khác có được vào lúc đó.

Công ty tính toán giá trị suy giảm căn cứ trên ngân sách chi tiết và các tính toán dự báo được thực hiện riêng rẽ từ các đơn vị hoạt động (tạo sinh dòng tiền) mà các tài sản riêng rẻ được phân bổ ở đó. Những ngân sách chi tiết và các tính toán dự báo thường bao phủ trên một thời hạn 5 năm. Đối với những chu kỳ dài hơn, một tỉ lệ tăng trưởng dài hạn được tính toán và áp dụng để trù liệu cho dòng tiền tương lai sau năm thứ năm.

Các lỗ lã do suy giảm giá trị tài sản được công nhận là lãi hay lỗ của các hạng mục chi phí theo đúng chức năng của tài sản bị suy giảm.

Một lượng định sẽ được đưa ra tại mỗi thời điểm báo cáo, cho biết liệu có dấu hiệu nào cho thấy có lỗ lã nào trước đây được công nhận do tài sản suy giảm, nay đã giảm nhẹ hơn hoặc không còn nữa. Nếu có dấu hiệu đó, Công ty sẽ ước lượng giá trị thu hồi đối với tài sản hoặc đơn vị hoạt động đó Một giá trị lỗ được công nhận do suy giảm tài sản có thể được đảo ngược nếu chính các giả thiết trước đó được sử dụng để tính toán giá trị thu hồi của tài sản có thay đổi từ lần lượng định lỗ lã do suy giảm được công nhận. Sự đảo ngược sẽ được giới hạn sao cho giá trị tài sản kết chuyển không vượt quá giá trị thu hồi mà cũng không lớn hơn giá trị kết chuyển, không tính khấu hao, đã được tính nếu không chấp nhận lỗ lã do suy giảm đối với tài sản trong những năm trước đó. Sự đảo ngược này phải được được công nhận là lãi / lỗ

(hết trang 5)


2. Tóm tắt các chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2. 6 Tài sản Tài chính

Công nhận ban đầu và tính toán giá trị

Tài sản tài chính được công nhận khi, và chỉ khi, Công ty trở thành một bên tham gia điều khoản hợp đồng của một công cụ tài chính. Công ty sẽ xác định việc phân loại các tài sản tài chính của mình ở giai đoạn công nhận ban đầu

Khi tài sản được công nhận ban đầu, nó được tính toán theo giá thị trưởng, có tăng thêm, trong trường hợp tài sản tài chính không đúng giá thị trường trên kết toán lãi /lỗ , chi phí giao dịch trực tiếp liên quan.

Các tính toán tiếp theo

Các món vay nợ và khoản thu là những tài sản tài chính không-phái sinh với các khoản chi trả khả định hoặc không đổi được niêm yết trên thị trường hoạt động. Tiếp theo việc công nhận ban đầu, nợ và các khoản thu được tính toán với giá trị khấu hao áp dụng phương pháp lãi suất hiệu dụng (effective interest) trừ đi giá trị giảm giá. Lãi /lỗ được công nhận là lợi nhuận hay lỗ lã khi nợ vay và các khoản thu bị xóa công nhận (derecognized) hoặc giảm giá, qua quá trình khấu hao.

Xóa Công nhận

Một tài sản bị xóa công nhận khi quyền ghi trong hợp đồng, được nhận dòng tiền từ tài sản đã hết hiệu lực. Trong việc xóa công nhận một tài sản tài chính một cách đầy đủ, chênh lệch giữa số mang qua và tổng số thu dự kiến và bất kỳ lãi /lỗ tích lũy đã được công nhận trong thu nhập toàn bộ được được công nhận là lãi / lỗ

2.7 Giảm giá của tài sản tài chính

Công ty đánh giá lại vào mỗi cuối kỳ báo cáo liệu có hay không có bằng chứng rằng một tài sản nhất định đã giảm giá.

Tài sản được kết sổ ở giá khấu hao

Đối với các tài sản tài chính kết sổ ở giá khấu hao, trước tiên Công ty đánh giá liệu bằng chứng khách quan về sự giảm giá có tồn tại riêng biệt đối với các tài sản tài chính quan yếu riêng biệt, hay tồn tại theo nhóm đối với các tài sản tài chính mà không quan yếu khi xem xét riêng biệt. Nếu Công ty xác định rằng không có bằng chứng khách quan nào về giảm giá đối với một tài sản tài chính được xem xét riêng biệt, thì dù quan yếu hay không , nó bao gồm tài sản trong một nhóm tài sản tài chính với cùng một đặc trưng rủi ro bên có và đánh giá chung các tài sản này về khả năng giảm giá. Các tài sản được đánh giá riêng rẽ về giảm giá và có ghi nhận hay tiếp tục bị ghi nhận lỗ lã vì giảm giá sẽ không được tính vào một đánh giá giảm giá theo nhóm

(hết trang 6)


2. Tóm tắt các chế độ tài chính quan trọng (tiếp tục)

2,7 Giảm giá Tài sản Tài chính (tiếp tục)

Nếu có một bằng chứng khách quan rằng có sự giảm giá đối với một tài sản tài chính được kết sổ ở chi phí khấu hao, số lượng lỗ sẽ được tính toán là hiệu số của trị giá tài sản mang qua và trị giá hiện hành của dòng tiền dự liệu tương lai được chiết khấu theo lãi suất hiệu dụng nguyên gốc của tài sản tài chính. Trị số mang qua của tài sản này sẽ giảm xuống khi sử dụng một tài khoản dự trữ (allowance account) Lỗ lã do giảm giá được công nhận trong lãi lỗ

Khi tài sản không thu hồi được, số mang qua của tài sản tài chính giảm giá sẽ bị trực tiếp giảm xuống hoặc nếu một trị số được tính vào tài khoản dự trữ, trị số tính vào sẽ được xóa giảm vào giá trị mang qua của tài sản tài chính

Để xác định liệu có bằng chứng khách quan có phát sinh lỗ lã do giảm giá trên một tài sản tài chính, Công ty phải xem xét các yếu tố như nguy cơ mất khả năng thanh toán hoặc những khó khăn tài chính quan trọng của con nợ và việc kéo dài chi trả hoặc vỡ nợ

Nếu trong một kỳ báo cáo tiếp theo, trị số lỗ lã do giảm giá giảm đi, và việc giảm này có thể liên hệ khách quan tới một sự kiện xảy ra sau khi việc giảm giá được công nhận, lỗ lã giảm giá được công nhận trước đó phải được đảo ngược sao cho giá trị mang qua của tài sản không vượt quá giá trị khấu hao vào thời điểm đảo ngược. Trị số đảo ngược được ghi nhận vào lãi lỗ.

Tài sản tài chính kết sổ theo chi phí

Nều có bằng chứng khách quan (như một sự thay đổi bất lợi trong môi trường kinh doanh nơi người phát hành hoạt động, nguy cơ mất khả năng thanh toán, hoặc các khó khăn tài chính nghiêm trọng của người phát hành) rằng một lỗ lã giảm giá đối với tài sản tài chính kết sổ theo chi phí đã phát sinh, trị số lỗ lã sẽ được tính là chênh lệch giữa trị số tài sản mang qua và giá trị hiện hành của dòng tiền dữ liệu trong tương lai được chiết khấu ở giá thị trường hiện hành của doanh thu từ một tài sản tài chính tương tự.

2.8 Các điều khoản

Các điều khoản được công nhận khi Công ty có một nghĩa vụ (luật định hay phát triển) do hệ quả từ một sự kiện quá khứ, có khả năng cần có dòng ra các nguồn lực biểu trưng các lợi ích kinh tế để giải quyết các nghĩa vụ và mức độ của nghĩa vụ có thể tính toán được một cách đáng tin cậy.

Các khoản dự phòng sẽ được soát xét lại ở mỗi cuối kỳ báo cáo và hiệu chỉnh để phản ảnh được các lượng định tốt nhất của thời điểm. Nếu không còn khả năng cho một dòng ra các nguồn kinh tế cần thiết để thanh toán một nghĩa vụ, các khoản dự phòng phải hủy bỏ. Nếu ảnh hưởng của giá trị thời gian của tiền là quan trọng, các khoản dự phòng sẽ được chiết khấu bằng cách áp dụng lãi suất trước thuế hiện hành, nhằm phản ảnh tốt nhất các rủi ro trực tiếp liên quan đến công nợ. Khi áp dụng chiết khấu, việc tăng khoản dự phòng do quảng thời gian dài sẽ được công nhận là một chi phí vay nợ (finance cost)

(hết trang 7)


2. Tóm tắt các Chế độ Kế toán Quan trọng (tiếp tục)

2. 9 Công nợ Tài chính

Công nhận ban đầu và tính toán giá trị

Công nợ tài chính được công nhận khi, và chỉ khi, Công ty trở thành một bên tham gia điều khoản hợp đồng của một công cụ tài chính. Công ty sẽ xác định việc phân loại các công nợ tài chính của mình ở giai đoạn công nhận ban đầu

Các công nợ tài chính được công nhận ban đầu theo giá thị trưởng, có tăng thêm, trong trường hợp công nợ tài chính không đúng giá thị trường trên kết toán lãi /lỗ, chi phí giao dịch trực tiếp liên quan.

Các tính toán tiếp theo

Sau khi thực hiện công nhận ban đầu, các công nợ tài chính không phù hợp với giá thị trường qua kết toán lãi lỗ sẽ được tính toán theo chi phí khấu hao sử dụng phương pháp lãi suất hiệu dụng.

Lãi /lỗ được công nhận là lợi nhuận hay lỗ lã khi các khoản nợ được xóa công nhận (derecognized) qua quá trình khấu hao.

Xóa Công nhận

Một công nợ tài chính được xóa công nhận khi nghĩa vụ công nợ được trả xong, hủy bỏ hay hết hạn kỳ. Khi một công nợ tài chính được thay thế bằng một công nợ khác từ cùng một chủ nợ theo các điều khoản cơ bản khác biệt, hoặc điều khoản của công nợ cũ với những thay đổi quan trọng; những hoán chuyển và thay đổi đó được hạch toán như là sự xóa công nhận đối với công nợ gốc và công nhận một công nợ mới. Chênh lệch giữa hai trị giá mang qua sẽ được công nhận là lãi hay lỗ

2.10 Thuế

(i) Thuế thu nhập hiện hành

Các tài sản và công nợ thuế thu nhập hiện hành cho kỳ hiện tại và trước đó được tính toán theo con số dự tính có thể thu hồi từ hoặc trả cho ngành thuế. Luật và thuế suất áp dụng để tính toán là luật và thuế suất có hiệu lực hoặc chủ yếu đã hiệu lực tại thời điểm báo cáo.

Thuế thu nhập hiện hành được công nhận vào lãi /lỗ trừ phi, ở mức độ thuế liên quan đến các khoản công nhận ngoài phạm vi lãi / lỗ, hoặc ở thu nhập toàn bộ hoặc trực tiếp trong vốn chủ sở hữu. Hội đồng Quản trị định kỳ đánh giá vị thế trên tờ khai thuế đối với các tình huống các quy định thuế cần được diễn giải và thiết lập các khoản dự trữ tùy chỗ thích hợp

(hết trang 8)


2. Tóm tắt các chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2.10 Thuế (tiếp tục)

(ii) Thuế thu nhập hoãn lại :m

Thuế thu nhập hoãn lại áp dụng phương pháp công nợ đối với các chênh lệch tạm thời tại thời điểm báo cáo giữa cơ sở thuế của tài sản /công nợ và trị số mang qua dùng cho báo cáo.

Nợ thuế thu nhập hoãn lại được công nhận đối với tất cả chênh lệch tạm thời phải đóng thuế, ngoại trừ:

-Trường hợp nợ thuế thu nhập hoãn lại phát sinh từ công nhận ban đầu của một tài sản vô thể, tài sản hay công nợ trong một giao dịch không phải là một phối hợp kinh doanh, và tại thời điểm giao dịch, không ảnh hưởng gì đến lợi nhuận kế toán hoặc lãi lỗ chịu thuế; hoặc

– Trường hợp các chênh lệch tạm thời phải chịu thuế liên quan đến các khoản đầu tư trong công ty con, liên kết và quyền lợi trong các liên doanh mà khung thời gian cho việc đảo ngược các chênh lệch này có thể kiểm soát và có khả năng các chênh lệch tạm thời sẽ không đảo ngược trong thời gian trước mắt

Tài sản thuế thu nhập hoãn lại được công nhận đối với tất cả các khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ, mang qua của khoản giảm thuế đầu tư (tax credit) chưa sử dụng, các khoản khấu trừ do lỗ lã chưa sử dụng, ở chừng mực mà có khả năng phát sinh lợi nhuận phải đóng thuế mà các chênh lệch tạm thời được khấu trừ, khoản mang qua của giảm thuế đầu tư , khoản khấu trừ do lỗ lã có thể áp dụng; ngoại trừ

-Trường hợp tài sản thuế thu nhập hoãn lại liên quan đến chênh lệch tạm thời được khấu trừ phát sinh từ công nhận ban đầu của một tài sản hay công nợ trong một giao dịch không phải là một phối hợp kinh doanh, và tại thời điểm giao dịch, không ảnh hưởng gì đến lợi nhuận kế toán hoặc lãi lỗ chịu thuế; hoặc

– Trường hợp các chênh lệch tạm thời được khấu trừ liên quan đến các khoản đầu tư trong công ty con, liên kết và quyền lợi trong các liên doanh, tài sản thuế thu nhập hoãn lại được công nhận chỉ khi nào có khả năng các chênh lệch tạm thời sẽ đảo ngược trong thời gian trước mắt và phát sinh lợi nhuận chịu thuế mà các chênh lệch tạm thời có thể được áp dụng

Trị số mang qua của tài sản thuế thu nhập hoãn lại được đánh giá lại vào mỗi kỳ báo cáo và được giảm xuống tới mức không còn khả năng có đủ lợi nhuận chịu thuế khiến một phần hay toàn bộ tài sản thuế thu nhập hoãn lại có thể sử dụng. Các tài sản thuế thu nhập hoãn lại không được công nhận sẽ được đánh giá lại vào mỗi kỳ báo cáo và được công nhận chỉ khi nào có khả năng lợi nhuận chịu thuế tương lai cho phép tài sản thuế thu nhập hoãn lại được thu hồi.


(đầu trang 10)

2. Tóm tắt các chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2.10 Thuế (tiếp tục)

(ii) Thuế thu nhập hoãn lại (tiếp tục)

Các tài sản và công nợ thuế thu nhập hoãn lại được tính toán ở mức thuế dự tính áp dụng vào niên kỳ mà tài sản được thực hiện hoặc công nợ được thanh toán, căn cứ trên mức (và luật) thuế được ban hành hoặc chủ yếu được ban hành vào kỳ báo cáo

Thuế thu nhập hoãn lại liên quan đến những tài sản được công nhận bên ngoài lợi nhuận hoặc lỗ lã sẽ được công nhận ngoài lợi nhuận hoặc lỗ lã. Các tài sản thuế thu nhập hoãn lại được công nhận trong tương quan với các giao dịch phía sau nó hoặc trong các thu nhập toàn thể hoặc trực tiếp trong vốn chủ sở hữu .

Tài sản thuế thu nhập hoãn lại và công nợ thuế thu nhập hoãn lại được bù trừ, nếu có một quyền khả thi theo luật định cho phép bù đắp các tài sản thuế hiện hành đối với nợ thuế thu nhập và thuế thu nhập hoãn lại liên quan tới cùng một thực thể chịu thế và cùng một cơ quan tính thuế.

(iii) Thuế Dịch vụ và Hàng hóa

Doanh thu, chi phí, và các tài sản được công nhận trên giá trị ròng thuế hàng hóa và dịch vụ, ngoại trừ:

-Trường hợp thuế hàng hóa và dịch vụ phát sinh từ mua sắm tài sản hay dịch vụ không thể thu hồi từ cơ quan thuế, trong trường hợp đó thuế hàng hóa và dịch vụ được công nhận là bộ phận cấu thành của chi phí mua lại tài sản hay thành phần của khoản chi phí có thể áp dụng; và

– Các khoản phải thu, phải trả được báo cáo cùng với thuế mua hàng đã được bao gồm.

Giá trị ròng của thuế thuế hàng hóa và dịch vụ có thể thu hồi hay phải trả cho cơ quan thuế được bao gồm như là bộ phận cấu thành của khoản phải thu hay phải trả trong báo cáo vể tình hình tài chính.

2.11 Cho thuê

Việc xác định một thỏa thuận là hợp đồng cho thuê hay bao hàm một hợp đồng cho thuê sẽ đặt cơ sở trên thực chất của thỏa thuận vào ngày khởi điểm hiệu lực: hoặc việc thực hiện đầy đủ thỏa thuận có tùy thuộc vào việc sử dụng một hay nhiều tài sản cụ thể, hoặc hợp đồng bao hàm quyền sử dụng tài sản , ngay cả khi quyền này không được nêu rõ tường minh trong một thỏa thuận. Đối với những thỏa thuận ký kết trước 01 tháng 01 năm 2005, ngày bắt đầu hiệu lực được xem là ngày 01 tháng 01 năm 2005 theo đúng yêu cầu vể chuyển đổi INT FRS 1004

Các chi trả tiền thuê vận hành được công nhận như là chi phí trong lãi lỗ trên cơ sở ngang-bằng với thời hạn thuê mướn. Lợi ích tổng hợp của các khoản khuyến khích của bên chủ cho thuê được công nhận như một sự giảm bớt chi phí thuê mướn trong thời hạn cho thuê trên cơ sở ngang-bằng.

(hết trang 10)
2. Tóm tắt những chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2.12 Công nhận Doanh thu:

Doanh thu được công nhận khi mà các lợi ích kinh tế sẽ chảy về Công ty và có thể đo lường được một cách tin cậy, bất kể thời điểm thanh toán. Doanh thu được tính qua xem xét giá thực tế (thị trường) thu được hay phải thu, có xét đến các phương thức thanh toán được xác định trong hợp đồng, không tính vào các khoản chiết khấu, bớt giá, thuế kinh doanh và phí các loại. Công ty đánh giá các thỏa thuận doanh thu để xác định xem doanh thu đóng vai chủ ủy thác (principal) hay là đại lý cung ứng (agent) . Công ty đã xác định là mình đang hoạt động ở vai chủ thể trong toàn bộ các kết cấu doanh thu của mình.

Các tiêu chí công nhận doanh thu cụ thể sau đây phải được đáp ứng trước khi doanh thu được công nhận:

(i) Cung ứng dịch vụ:

Doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ cho các khách hàng sỉ của công ty mẹ, DFS Venture Singapore, được công nhận khi dịch vụ được cung cấp và ra hóa đơn.

Thu nhập phí dịch vụ được tính cho công ty con được công nhận khi dịch vụ được cung cấp. Mức phí công nhận được tăng 5% cho các chi phí liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ đó.

(ii) Thu nhập lãi suất

Thu nhập lsaut được ghi nhận áp dụng phương pháp lãi suất hiệu dụng

2.13 Tiền mặt và các tài sản tương đương tiền mặt

Tiền mặt và các tài sản tương đương tiền mặt là tiền mặt tại ngân hàng và tiền tại quỹ.

2.14 Phúc lợi của nhân viên

Công ty đóng góp vào Chương trình Quỹ Central Provident Fund tại Singapore, một chương trình đóng góp quỹ hưu trí. Những đóng góp này được công nhận như các chi phí trong kỳ mà dịch vụ liên quan được thực hiện.

2.15 Các bên liên quan

Bên liên quan được định nghĩa như sau:

(a) Một cá nhân hoặc thành viên thân thuộc của người đó được gọi là liên hệ với Công ty nếu người đó:

(i) có quyền kiểm soát hoặc cùng kiểm soát đối với Công ty

(iii) có uy thế ảnh hưởng quan trọng đối với Công ty

(iv) là thành viên của nhân sự chủ chốt của ban lãnh đạo của Công ty hoặc một công ty mẹ của Công ty.

(hết trang 11)
2. Tóm tắt những chế độ kế toán quan trọng (tiếp tục)

2.15 Các bên liên quan (tiếp tục)

(b) Một thực thể được coi là có liên hệ với Công ty khi một trong các điều kiện sau đây được thỏa:

(iv) (i) thực thể và Công ty là thành viên của cùng nhóm tập đoàn (nghĩa là mỗi công ty mẹ, công ty con, công ty thành viên đều liên hệ với các công ty khác)

(v) (ii) Một thực thể là một công ty liên kết (associate) hay liên doanh với cùng một đối tác thứ ba.

(vi) (iii) Cả hai thực thể cùng liên doanh với một bên thứ ba

(vii) Thực thể là một kế hoạch/ dự án phúc lợi sau-tuyển dụng cho kế hoạch phúc lợi của nhân viên của Công ty hay của một thực thể liên hệ với Công ty. Nếu Công ty là chủ thể của chính dự án, các chủ doanh nghiệp bảo trợ cũng liên hệ với Công ty.

(viii) Chủ thể được kiểm soát hoặc cùng được kiểm soát bởi một người được xác định tại mục (a)

(ix) Một người được xác định tại (a) (i), có uy thế ảnh hưởng đối với thực thể hoặc là một thành viên là nhân sự chủ chốt của ban lãnh đạo của thực thể (hoặc một công ty mẹ của thực thể)

3. Các cân nhắc và ước lượng kế toán quan trọng:

Việc lập báo cáo tài chính của Công ty đòi hỏi ban lãnh đạo đưa ra những cân nhắc, ước lượng và các giả định có thể tác động ảnh hưởng đến con số doanh thu, các chi phí, tài sản và công nợ báo cáo, và việc công bố các công nợ đột xuất ở mỗi cuối kỳ báo cáo. Tuy nhiên, sự bấp bênh về những ước lượng cũng như giả định có thể dẫn đến một kết quả cần đến sự điều chỉnh quan trọng trị số mang qua của tài sản hay công nợ có thể bị tác động trong những kỳ báo cáo tương lai.

(hêt trang 12)

3.Các Cân nhắc và Ước lượng Kế toán Quan trọng (tiếp tục)

(a) Các cân nhắc hệ trọng khi áp dụng các chế độ kế toán:

Trong quá trình áp dụng các chế độ kế toán của Công ty, ban lãnh đạo công ty đã đưa ra các cân nhắc, không kể các đánh giá ước tính, đã có những hiệu quả đáng kể đối với các khoản được công nhận trong các báo cáo tài chính.

Giảm giá tài sản tài chính:

Công ty áp dụng hướng dẫn FRS 39 để xác định khi nào một tài sản tài chính không thể còn được coi là bị giảm giá tạm thời. Việc xác định này đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng, Công ty đánh giá, qua những yếu tố khác nhau, trong đó có thời hạn và mức độ mà giá trị giảm giá của tài sản tài chính xuống thấp hơn giá chi phí của nó; sự lành mạnh tài chính trong cách nhìn kinh doanh tầm gần đối với tài sản tài chính, bao gồm hiệu quả trong ngành công nghiệp và lĩnh vực kinh doanh, các thay đổi của dòng tiền hoạt động và tài trợ

(b) Nguồn chủ yếu tạo ra tính bấp bên của các ước tính

Các giả định liên quan đến tương lai và các nguồn chính yếu của tính bấp bênh trong của các uớc tính vào mỗi cuối kỳ báo cáo, là mối rủi ro lớn có thể kéo theo sự điều chỉnh đáng kể các khoản mang sang của công nợ hay tài sản cho năm tài chính sắp đến được thảo luận ở dưới đây.

thuế thu nhập

Có nhiều sự cân nhắc khi xác định các khoản dự phòng của Công ty cho thuế thu nhập. Có một số những giao dịch và tính toán mà việc xác định thuế chính xác là không thể chắc chắn theo cách vận hành bình thường của việc kinh doanh. Công ty công nhận công nợ cho các khoản thuế dự trù căn cứ trên các ước tính liệu có thêm khoản thế nào khác đến hạn. Khi mà con số kết quả tính thuế sau cùng khác với trị số được thừa nhận ban đầu, các chênh lệch này sẽ tác động lên các khoản trữ thuế thu nhập đã đưa ra trong kỳ báo cáo. Giá trị mang qua của thuế phải trả của Công ty vào ngày 31 tháng Mười hai là $102.005 (2010, thuế phải trả $251.816)

4. Lợi nhuận Hoạt động

Lợi nhuận hoạt động kinh doanh báo cáo sau khi đã tính:

2011

$

2010

S

Chi phí tư vấn

Chi phí phúc lợi nhân viên

Chi phí thuê nhà xưởng

2.615.437

791,810

169.681

1,377.308

712.219

213.209

(cuối trang 13)

13. Công cụ Tài chính và việc Quản lý Vốn

Công ty đứng trước nhiều rủi ro tài chính, như rủi ro vể ngoại tệ. rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản. Ban lãnh đạo của Công ty giám sát việc quản lý các rủi ro này và có trách nhiệm báo cáo cho Hội đồng quản trị, là người có trách nhiệm bao quát vể các chính sách quản trị rủi ro của Công ty.

Các chính sách quản lý rủi ro ngoại tệ, rủi ro tác dụng và rủi ro thanh khoản được tóm tắt dưới đây:

Rủi ro về ngoại tệ

Công ty đứng có nhiều rủi ro về ngoại tệ trong bán hàng, mua sắm và vay mượn được tính toán bằng một ngoại tệ khác với đồng tiền tác nghiệp của các thực thể doanh nghiệp khác nhau trong Công ty. Tuy vậy ban lãnh đạo có quan điểm rằng các rủi ro này không có tác động gì quan trọng đến tình hình tài chính của Công ty và kết quả hoạt động kinh doanh sẽ được diễn giải ở bên dưới.

Các mua sắm hàng vật tư và bán hàng chủ yếu được thực hiện chỉ bởi một số tthực thể trong Công ty. Các thực thể này sẽ lại bán cho các thực thể khác của Công ty bằng đồng tiền tác nghiệp của các thực thể mua hàng đó. Rủi ro tiền tệ vì vậy được bù trừ, qua đó tạo ra một hàng rào bảo vệ rủi ro cho Công ty. Các rủi ro còn lại từ các khoản thu và khoản phải trả trong kinh doanh thuộc về một hồ sơ tiền tệ đa dạng. Vì lý do này, ban lãnh đạo có quan điểm rằng rủi ro riêng rẻ của từng thực thể có mức độ giới hạn.

Phân tích về dộ nhạy cảm của rủi ro ngoại tệ

Bảng sau đây cho thấy độ nhạy cảm của thu nhập, thuế ròng của Công ty đối với một thay đổi trong tỉ giá hối đoái từ của USD và VND (?) đối với các tiền tệ tác nghiệp tương ứng của các thực thể này, giả thiết rằng các tham số khác là không thay đổi.

   

Thu nhập trước thuế

   

2011

2010

SGD/USD

– củng cố hơn 3% (2010:3°4)

– yếu đi 3% (2010 :3%)

(136,945) 136,945

(77,234)

77,234

       

SGD/USD

– củng cố hơn 3% (2010:3%)

– yếu đi 3% (2010_3%)

(9,334)

9,334

(1,838)

1,838

       

(cuoi trang 14)

13. Chính sách và qui trình quản lý rủi ro tài chính

Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro thua lỗ tài chính của Công ty nếu một khách hàng hay đối tác trong một công cụ tài chính không thực hiện đúng các nghĩa vụ hợp đồng, và rủi ro thường phát sinh từ các khoản phải thu trong kinh doanh và tiền gửi ngân hàng.

Rủi ro tín dụng từ ngân hàng và các thiết chế tài chính do bộ phận chức năng tài chính của Công ty đảm đương. Theo chính sách của Công ty, đầu tư từ các quỹ thặng dư chỉ được thực hiện khi được sự chấp thuận của các bên đối tác và chúng nằm trong giới hạn tín dụng đã quy định cho từng đối tác. Các giới hạn tín dụng của các đối tác được bộ phận tài chính thường xuyên đánh giá lại, và cập nhật suốt trong trong năm tùy vào sự chuần thuận của Trưởng Bộ phận Tài chính (CFO). Các giới hạn được lập nên để giảm bớt sự tập trung rủi ro và nhờ đó giảm thiểu các thua lỗ tài chính từ các đối tác có nguy cơ thất bại.

Vào ngày báo cáo, tất cả các số thu kinh doanh của Công ty đã đến hạn từ một khách hàng lớn ở Indonesia. Chủ trương của Công ty là làm ăn kinh doanh với các đối tác tin cậy và Công ty đã đánh giá về mức độ tin cậy (uy tín thanh toán) của khách hàng này. Do đó, căn cứ trên sự đánh giá của ban lãnh đạo, không có tài sản tài chính nào phải bị giảm giá tại thời điểm báo cáo này.

Khả năng gặp rủi ro cao nhất của Công ty về tín dụng, trong mức độ mà các bên đối tác không thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của họ trước ngày 31 tháng Mười hai 2011 đối với từng lớp loại tài sản là con số mang qua của những tài sản này như được chỉ ra trong báo cáo về tình hình tài chính.

Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi mà Công ty không còn đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính khi chúng đến hạn.

Công ty quản lý các rủi ro thanh khoản bằng cách thường xuyên theo dõi dự báo dòng tiền và thực tế lưu chuyển tiền mặt, duy trì đủ lượng tiền mặt và các phương tiện tương đương tiền mặt và nắm chắc các tiện ích ngân hàng.

Chi tiết về khoản giá trị khả thu tới hạn của một công ty được công bố trong Thuyết minh 7

14. Cho phép công bố báo cáo tài chính

Các báo cáo tài chính cho năm kết toán 31 tháng Mười hai 2011 của Công ty đã được cho phép công bố theo như nghị quyết ngày 12 tháng Sáu 2012 của Hội đồng Quản trị

(cuoi trang 15)


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: