dịch thuật, một số bài viết của nhiều tác giả

Đường Huyền Trang

Người học trò ấy ra đi năm 33 tuổi (năm 628), lặn lội 17 năm, mang về nước 657 bộ kinh, dành 19 năm để dịch được 75 bộ, gồm 1335 quyển. Bước vào tuổi 69 (cuối tháng 1, 664), còn bắt tay dịch bộ Đại Bảo Tích, dịch được ít giòng, bỏ bút, than thở: “Bộ này dài bằng bộ Đại Bát Nhã, Huyền Trang này tự lượng sức không còn dịch nỗi nữa”. Đệ tử khóc, đề nghị dịch tóm tắt, Ngài không đồng ý. Mấy đêm sau, Ngài gát bút nghìn thu (5.2.664).

Hãy nghe đệ tử của Ngài là Huệ Lập kể lại: “Ngài ở chùa Từ Ân, chuyên lo phiên dịch, ngày nào gặp việc, dịch chưa xong, thì đêm đến, dịch thế lại, dịch cho đến chỗ làm dấu trước trong nguyên bản mới dừng lại, cho tới canh ba. Sang canh năm, Ngài đã trở dậy, đọc to bản Kinh chữ Phạn, lấy điểm son làm dấu thứ tự, dịch trước những đoạn sẽ dịch trong ngày… Đau thì Ngài dùng thuốc chứ không bao giờ nghỉ việc phiên dịch và dạy học”. (Võ Đình Cường, Đường Tam Tạng thỉnh kinh).

Vua Đường Cao Tông quý Ngài, muốn đến thăm, nhưng thỉnh thoảng thôi vì cũng không dám quấy rầy! Đó là sức làm việc. Còn đây là cách làm việc: “Ngài lấy ba bộ Đại Bát Nhã không cùng một mẫu đem từ Ấn Độ về, hễ đến đoạn nào ngờ, thì đem ra so sánh, hiệu duyệt cẩn thận đến hai, ba lần mới dám hạ bút”.

Ngài không làm việc một mình, mà tổ chức cả một dịch trường gồm hàng trăm người, phân công thành một hệ thống hoàn bị: – dịch chủ, là người chỉ huy, tinh thông Hán-Phạn, nghĩa lý phán đoán xác thực, do Ngài đảm nhận; – bút thụ: dịch nghĩa Phạn → Hán; – độ ngữ: thạo tiếng Phạn, phiên âm ra tiếng Hán (vd: “Ba la mật”…) đọc lên nghe âm vận, thấy không ổn thì phiên âm lại; – chứng Phạn: so lại với Phạn văn xem có đúng không; – nhuận văn: chuốt lại cho hợp với văn pháp Hán; – chứng nghĩa: đem bản dịch so lại với nghĩa lý nguyên bản, nếu sai thì sửa lại; – tổng khám: xét chung lại một lần cuối cùng trước khi hoàn thành bản dịch.

Là một dịch giả tinh thông, nghiêm cẩn, Ngài đặc biệt quan tâm đến vấn đề phương pháp luận dịch thuật để tạo cơ sở vững chắc cho việc phiên dịch sách kinh điển. Huyền Trang là người khai sáng thời đại tân dịch (phương pháp mới về phiên dịch kinh điển), kế thừa và phát triển hai truyền thống trước đó là trực dịch (dịch sát, thời Hán) và ý dịch (dịch thoát, thời Lục Triều). Sở dĩ gọi là tân dịch, theo Lương Khải Siêu, là vì: “Dịch sát và dịch thoát, phối hợp hài hòa, đó chính là phương pháp phiên dịch tốt nhất” (Trực dịch ý dịch, viên mãn điều hòa, tư đạo chi cực quý dã).

Tiền bối của Ngài là Đạo An, ngay từ năm 382, đã đi rất xa trong lý thuyết phiên dịch, đúc kết lại trong nguyên tắc ngũ thất bản (năm điều mất mát) và tam bất dị (ba điều khó), còn có giá trị tham khảo quý báu cho ngày nay. Năm điều mất mát:
-      cú pháp ngược nhau (vd: Hán, Việt, Anh, Pháp có cú pháp thuận; Phạn, Đức có cú pháp ngược), dịch không khéo sẽ sai với nguyên bản.
-      kinh điển Phạn chú trọng nội dung cần truyền đạt (thượng chất), còn văn phong Trung Quốc (và cả Việt Nam?) thích nói văn vẻ (hiếu văn): dịch hoa mỹ thì không đúng nguyên tác; dịch trung thực thì không được ưa chuộng.
-      kinh điển dài dòng, bản dịch muốn ngắn gọn, là không đúng nguyên tác.
-      kinh điển có phần bổ túc, chú thích rất dài, bản dịch cắt bỏ đi mất.
-      kinh điển bàn sâu tán rộng, bản dịch lại cho là trùng lắp, tùy tiện lược bỏ.

Còn ba điều khó là:
-      văn hóa, phong tục khác nhau, rất khó làm cho hai bên hiểu nhau.
-      kinh điển uyên thâm, người thường không dễ lĩnh hội.
-      không dễ nắm bắt ý nghĩa đích thực của nguyên bản.

Đi vào kỹ thuật dịch, Ngài Huyền Trang có đóng góp độc đáo và sáng tạo với nguyên tắc Ngũ bất phiên (năm điều không thể / không nên dịch): – những danh từ riêng không thể dịch; – những danh từ mật giáo có uy lực gia trì, không nên dịch; – những từ đa nghĩa, dịch một thì mất mấy nghĩa kia; – những chữ đã quen thuộc, không nên dịch lại, làm rối thêm; – những gì nhảm nhí thì không nên dịch. Như thế, nguyên tắc “ngũ thất bản” của Đạo An và “ngũ bất phiên” của Huyền Trang đã bao quát hầu hết những nội dung chính của một lý luận phiên dịch hoàn chỉnh, và là cơ sở cho một môn thông diễn học về thánh điển (hermeneutica sacra) ở phương Đông, song hành với những Philo, Origenes, Augustin, M. Luther ở phương Tây, đóng góp vào môn thông diễn học phổ quát hiện đại (hermeneutica generalis), bàn về mối quan hệ giữa văn bản, sự lý giải và dịch giả / người lý giải.

Từ ngày mất của Ngài Huyền Trang đến chúng ta ngày nay là 1345 năm, tức hơn… mười ba thế kỷ. Kinh điển, sách vở trong thiên hạ không biết phải chất thành bao nhiêu bồ. Công việc “chia điều chẻ lý”, “bỏ ngụy thêm chân” nặng nề và khó khăn gấp vạn bội. Xin lấy Châu Âu làm ví dụ. Châu lục ấy gồm rất nhiều quốc gia, với rất nhiều ngôn ngữ khác nhau. Và không phải cứ ở gần nhau là có thể đọc được sách của nhau! Vì thế, công việc dịch thuật, chú giải buộc phải diễn ra ở đó một cách quy mô, dồn dập và liên tục. Không dịch nhanh, dịch đúng, dịch đầy đủ, dịch kịp thời thì các đại học, nhất là các bộ môn khoa học xã hội, nhân văn, chắc phải đóng cửa hết. Không thể chờ đợi sinh viên phải thạo ngoại ngữ (làm sao có thể tinh thông nhiều ngoại ngữ ở lứa tuổi đôi mươi!); và cho dù có biết, thì cả nền học thuật đầy tự hào của một quốc gia độc lập cũng không được phép… nói bằng tiếng nước ngoài!

Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật: bao giờ ở ta mới có được những dịch trường đúng nghĩa? Mười ba thế kỷ sau Huyền Trang!

Gió bụi biệt trung nguyên
Đường xa như đạo thiền
Cực tấm lòng bồ tát
Râu tóc cứ dài thêm
Bùi Văn Nam Sơn kính đề

 

 

Chữ “Và” nhẹ như không mở đầu câu cuối, song tôi muốn đọc thành chữ “Nhưng”! Lạ nhĩ mà cũng hay thật: tên tuổi bao anh hùng, mỹ nhân lừng lẫy một thời khiến ta kinh hãi và xót thương, mà rồi cũng phôi pha. Đọng lại “đậm nét nhất” trong tâm khảm lại là hình ảnh một lão thư sinh áo vải, cặm cụi một mình sang phía Tây, dãi gió dầm sương cầu học, lầm lũi trở về cố quốc, lại cặm cụi với quyển sách và cây bút cho đến phút cuối đời, với lời trăn trối: “Các ngươi hãy bình tĩnh và hoan hỉ từ giả cái thân giả tạm này sau khi nó đã làm xong nhiệm vụ”. Tức là xem tấm thân mình cũng như tờ giấy, cây bút! Chỉ để “làm xong nhiệm vụ”. Nhiệm vụ gì vậy? Đường Thái Tông nói hộ Ngài:

“Chân giáo khó tin, được mấy kẻ nhất tâm quy ngưỡng
Tạp học dễ tập, nào ai hay phân biệt chính tà
… Nghĩ muốn chia điều chẻ lý, mở rộng chỗ học xưa
Bỏ ngụy thêm chân, khai thông kẻ hậu tấn”
(Lời đề từ cho “Tân phiên kinh luận”)

 

Mùa Phật Đản, 2009


 

Gian nan nghề phiên dịchIn

10-02-2011

Phiên dịch là một nghề khó, phiên dịch cho các nguyên thủ còn khó bội phần. Đó là tâm sự của một số phiên dịch viên của các nhà lãnh đạo Liên Xô (cũ), Nga.

Phiên dịch cho các nhà lãnh đạo Liên Xô trước đây và nước Nga ngày nay không ai không là quan chức ngoại giao. Họ thường công tác tại Vụ Phiên dịch, Bộ Ngoại giao. Một số người chuyên dịch viết, một số chuyên dịch nói. Có khoảng 20 người chuyên dịch nói, riêng tiếng Anh có 6 người. Phần lớn phiên dịch viên đều được học hành chu đáo về ngôn ngữ, qua huấn luyện nghiêm khắc tại các lớp đào tạo phiên dịch viên của Liên hợp quốc. Với tư cách là phiên dịch cho nguyên thủ quốc gia, không những họ có vốn ngôn ngữ sâu rộng mà còn có tri thức uyên bác. Trước mỗi lần hội đàm, phiên dịch viên phải vùi đầu chuẩn bị, sau khi gặp gỡ xong lại phải kịp thời chỉnh lý nội dung mà hai bên trao đổi. Bởi thế, việc làm thêm giờ đối với họ là chuyện bình thường. Nói chung phiên dịch viên Mỹ thường đứng sau người lãnh đạo, nhưng phiên dịch viên của Tổng thống Nga có thể đứng ngang vai với người lãnh đạo, tức là ngay trong những cuộc gặp gỡ chính thức, họ có thể đứng ngang hàng với Tổng thống. Có thể thấy vai trò của người phiên dịch Nga không phải là tầm thường, không chỉ là cái “micro”.

Mỗi lần dịch, một lần thi quốc gia

Phiên dịch tiếng Anh cho Tổng thống Putin nói: “Mỗi lần gặp gỡ cấp cao đều là một lần thi quốc gia, lúc nào tôi cũng ở trong tình trạng căng thẳng cao, vì không thể có bất kỳ sai lầm nào, mỗi câu mỗi chữ đều nặng ngàn cân”. Tổng thống Putin có một đặc điểm là thích dịch đuổi trong đàm phán quốc tế, tức là người dịch gần như phải đồng thời dịch ngay những điều ông vừa nói, khiến hai bên không phải chờ đợi, như thế có thể tiết kiệm thời gian, nhưng yêu cầu trình độ phiên dịch rất cao. Tuy vậy, dịch cho Putin không khó, vì ông hiểu đặc điểm của công tác phiên dịch, nên nói rất dứt khoát, tư duy rõ ràng, lôgic, biết dừng lại đúng lúc, hơn nữa rất tôn trọng phiên dịch viên.

“Phần hai không phải đọc sao?”

Sukhodrev, phiên dịch tiếng Anh cho ba nhà lãnh đạo Liên Xô là Khrushev, Brejnev, Gorbachev kể lại: Vào lúc cuối đời của Brejnev, tôi làm việc với ông ta rất khó, ông ta không như Khrusev thích nói “vo” mà chỉ đọc theo bản viết đã chuẩn bị sẵn từ trước. Trong cuộc hội đàm người đứng đầu Xô – Mỹ năm 1979 tại Vienna, đã xảy ra một chuyện chẳng hay ho gì. Chúng tôi đã chuẩn bị trước cho Brejnev một loạt đáp án, nếu Carter hỏi theo nghĩa rộng thì Brejnev đọc cả trang, nếu hỏi theo nghĩa hẹp thì chỉ đọc nửa trang. Khi Carter hỏi, tôi lấy tờ giấy đã chuẩn bị đưa cho Tổng Bí thư. Vì đối phương chỉ hỏi vấn đề nhỏ, nên tôi gấp nửa dưới tờ giấy lại rồi mới đưa cho ông. Không ngờ khi đọc đến chỗ giấy bị gấp, ông đột ngột quay lại hỏi lớn: “Thế nào, phần hai không phải đọc sao?” – câu nói làm tôi muốn chui xuống đất.

“Nhiệm vụ của anh là phiên dịch”

Trong bữa ăn, phiên dịch viên hầu như không thể ăn uống bình thường như những người khác. Đó là điều ai cũng biết. Beskov, người từng dịch cho Stalin tại Hội nghị Postdam cho biết, suốt trong ngày hội đàm giữa Stalin với Roosevelt và Churchill, ông hầu như không ăn uống gì. Vào bữa tiệc, khi người ta tiếp cho ông một miếng bít tết, nhịn không nổi, ông đã nhét cả miếng vào miệng. Đúng lúc đó Churchill hỏi Stalin một vấn đề, nhưng đợi mãi không thấy phiên dịch viên lên tiếng. Khi mọi người phát hiện ra, ai nấy cười phá lên. Riêng Stalin thì đi tới bên ông, nghiêm khắc nói vào tai: Anh có thể tìm đến chỗ khác mà ăn, nhiệm vụ của anh là phiên dịch!

Theo Thế giới và Việt Nam


Dịch giả Dương Tường hiệu đính Mật mã da VinciIn

10-08-2011

Thức tới 1 giờ sáng hàng đêm để chuyên tâm hiệu đính Mật mã Da Vinci (bản dịch nhiều lỗi), nhà văn Dương Tường được trả một khoản thù lao thỏa đáng, song ông không quan tâm tới điều đó.

+ Ông đã phải “ở ẩn” để hiệu đính Mật mã Da Vinci?

– Nhà xuất bản VH-TT thuê cho tôi một căn phòng 20 m2 ở đường Trần Hưng Đạo (Hà Nội). Chỗ này gần nhà tôi, tôi có thể về ăn trưa, ăn tối rồi sang đó làm việc.

Gọi là hiệu đính nhưng coi như dịch lại toàn bộ tác phẩm, sửa từng dòng, từng trang một…

Nói chung rất vất vả, có trang phải hì hục cả ngày. Những lỗi người đọc đã phát hiện ra không khó để chữa. Khó nhất là tìm ra ẩn ý phía sau câu chữ.

Hầu như không đêm nào tôi ngủ trước 1 giờ sáng. Rất nhiều người can tôi không nên nhận. Họ bảo tôi, tội tình gì cứ phải làm khổ mình như thế.

Nhưng tính tôi hay nể nang. Thật ra chẳng ai muốn nhận công việc này. Chỉ có tôi mới nhận làm mà thôi. Nhưng làm rồi thấy mệt vì đúng là một công việc khổ sai chẳng đem lại cho mình mấy hứng thú.

+ Ông hài lòng với kết quả công việc của mình?

– Không phải tác phẩm dịch của mình nên chưa hẳn đã hài lòng. Tôi cố hoàn chỉnh để không còn sai sót nữa chứ không thể dịch hay được vì đây là một công việc chắp vá, đứt đoạn, không làm liền mạch như dịch thẳng toàn bộ từ đầu đến cuối.

Tôi bỏ công làm kỹ phần chú thích. Chú thích rất quan trọng, từ câu chữ trong ngữ cảnh để giúp người đọc hiểu cả đoạn văn, có khi hiểu cả một nét văn hóa, phong tục tập quán…

Có thể nói nhìn phần chú thích của một cuốn sách để đo trình độ của người dịch.

Việc này không những cho thấy dịch giả làm việc cẩn thận, chu đáo mà còn là người có tâm với bản dịch. Bản dịch trước hầu như không có chú thích.

+ Giả sử bản hiệu đính của ông vẫn bị phát hiện lỗi nào đó thì sao?

– Nếu soi kỹ, chắc vẫn có thể thấy lỗi. Nhưng nếu có thì chỉ là do sơ suất chứ không phải lỗi lớn.

+ Sau khi “ăn” phải quá nhiều “sạn”, liệu độc giả có còn hào hứng với “sản phẩm” đã được “sàng sảy” kỹ?

– Có vẻ như độc giả đang chờ đợi.

+ Ông có lời khuyên nào dành cho độc giả để tránh mua phải “hàng dởm”?

– Người đọc phải biết tự vệ mình chứ tôi chẳng dám có lời khuyên.

+ Cuối cùng xin tò mò được hỏi về thù lao?

– Tôi không muốn nêu con số cụ thể, chỉ xin nói rằng đó là một khoản thù lao thỏa đáng! Hơn nữa, đó không phải là mối quan tâm của chính tôi.

Câu chuyện dịch thuật: Bao giờ có “Dịch Trường”?In

25-07-2011

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: