Tính chủ quan trong nghiên cứu của một số học giả Việt Nam

1. Làm việc chay, không tra cứu trước khi đưa ra kết luận:

PGS. Tiến sĩ Vương Toàn, trong tác phẩm “TIẾNG VIỆT TRONG TIẾP XÚC NGÔN NGỮ TỪ GIỮA THẾ KỶ XX” [2010] Nxb Dân trí, pp258, đã đưa ra kết luận dưới đây:

Trang 48, "

từ Pháp “traverse” đã cho ta 2 từ Việt: 1. (thanh) tà vẹt và 2. (đinh) ca-vét, như trong các ví dụ sau:

1. Tổng công ty Đường sắt Việt Nam sẽ khởi công dự án thay tà-vẹt bê tông, tà-vẹt sắt bằng tà-vẹt bê tông dự ứng lực (HNM, 15-4,2004, tr6)

2. Người đàn ông đứng tuổi, lấy đồ nghề, tháo đinh ca-vét, lắc mạnh bánh xe sau, nói là “moa yơ bị vỡ (HNM, 15-4,2003, tr8)

Thí dụ 1 là đúng, không có gì bàn cải. Nhưng thí dụ 2 dẫn đến kết luận từ ca-vét được biến thể từ traverse là rất vội vàng. Đây là kiểu kết luận trực giác, không kiểm chứng, dựa trên từ traverse có âm gần với ca vét. Chỉ cần tra cứu một chút cũng thấy trong tiếng Pháp từ clavette chỉ bộ phận then chêm cơ khí.

Từ điển (c) Larousse:

CLAVETTE: Pièce en acier qui, insérée dans l’alésage de deux pièces concentriques, les rend solidaires en rotation..{chi tiết bằng thép, được chêm vào 2 chi tiết máy ghép đồng tâm, giúp cố định chúng với nhau trong chuyển động quay}.

Tra các từ điển cơ khí nào xuất bản trước đây 10 năm cũng có. Nó được phiên âm thành ca-vét, kla-vét, v.v..

Tiến sĩ Vương Toàn đáng lẽ phải cẩn thận khi đưa ra kết luận về một ca đặc biệt. Một từ tiếng Pháp khi du nhập vào tiếng Việt, chúng có thể có nhiều cách gọi, nói, phiên âm khác nhau, những nội dung ngữ nghĩa thường không thể quá xa nhau.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: